Khoa học

Pierre Darriulat 

Chúng ta, những người làm khoa học, tin rằng khoa học không bao giờ nói dối và sự thật sẽ luôn chiến thắng. Tuy nhiên, đôi khi nó có thể cần rất nhiều thời gian.

Chúng ta, những người làm khoa học, tin rằng khoa học không bao giờ nói dối và sự thật sẽ luôn chiến thắng. Tuy nhiên, đôi khi nó có thể cần rất nhiều thời gian.


Quan điểm của Lysenko về di truyền học được Stalin tán dương và hậu thuẫn bởi nó phù hợp với ý thức hệ Soviet. Nguồn: gonosiana.com.

Trong hơn 30 năm, từ thập niên 30 tới 60 của thế kỷ 20, nhờ vào sự hậu thuẫn của Stalin và tiếp đó là Khrushchev, Lysenko đã áp đặt quan điểm sai lầm của ông ta về di truyền học lên nền sinh học Liên Xô. Bản thân Stalin khi đó cũng rất thích thú và tán dương quan điểm của Lysenko, cho rằng những phẩm chất có được do sự đào luyện hoàn toàn có thể được truyền lại cho các thế hệ mai sau. Quan điểm này rất phù hợp với ý thức hệ Soviet khi ấy, nhắm tới xây dựng một hình mẫu con người lý tưởng mới. Lợi dụng đặc quyền của mình, Lysenko loại bỏ tất cả những nhà khoa học khác quan điểm với ông ta; đúng vào thời kỳ nở rộ ngành di truyền học trên thế giới. Từ nửa sau những năm 1930, đã có rất nhiều nhà di truyền học Soviet bị giết hại hay lưu đày tới những trại lao động cải tạo. Năm 1948, nhiều nhà di truyền học bị Lysenko kết tội “ngụy khoa học tiểu tư sản” và tất cả đều bị sa thải. Tổng cộng, có tới 3.000 nhà sinh học đã bị bỏ tù, sa thải, hay bị giết chỉ vì chống lại quan điểm của Lysenko. Phải tới năm 1962, ba nhà vật lý Soviet nổi tiếng là Ginzburg, Kapitsa và Zel’dovich mới có cơ hội công khai chỉ ra những sai lầm trong lý thuyết của Lysenko và sự bịp bợm của ông ta. Năm 1964, Sakharov tuyên bố trước Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô rằng Lysenko “phải chịu trách nhiệm cho sự tụt hậu đáng hổ thẹn của nền sinh học Soviet, đặc biệt trong lĩnh vực di truyền học, bởi hành vi phổ biến những quan điểm ngụy khoa học, bởi sự phiêu lưu không căn cứ của ông ta, khiến cho nền học thuật bị xói mòn, và cho sự lăng mạ, sa thải, bắt giữ, thậm chí cái chết của rất nhiều những nhà khoa học chân chính”.

Bằng cách nào người ta có thể che giấu sự thật trong vài thập kỷ trước sự chứng kiến của cả một cộng đồng các nhà khoa học đầy năng lực như vậy. Tôi từng trao đổi về điều này với một số nhà khoa học Liên Xô. Họ giải thích đó là hậu quả của một thời kỳ mà môi trường học thuật đầy sự nghi kỵ cùng với chính sách hạn chế tự do tư tưởng cực đoan và phi lý. Nhiều nhà khoa học đã an phận thủ thường, không dám lên tiếng; họ biết rằng nếu lên tiếng thì chẳng những không giúp gì cho việc bảo vệ sự thật mà còn tự chuốc lấy nguy hiểm cho sự nghiệp, thậm chí cả tính mạng. Còn những nhà quản lý vì sợ hãi cấp trên thường tỏ ra cực đoan hơn mức cần thiết. Họ không hề phân biệt giữa những người có mục đích chống đối chính quyền với những người lên tiếng vì sự tiến bộ của đất nước. Chính điều đó đã dẫn tới nạn chảy máu chất xám trong giới trí thức Liên Xô, một tổn thất nghiêm trọng đối với chế độ.

Ngày nay thật khó hình dung một kịch bản tương tự có thể xảy ra, bởi hiển nhiên nó đi ngược lại lợi ích của khoa học cũng như quốc gia. Internet và những nền tảng công nghệ khác cho phép mỗi chúng ta có khả năng tiếp cận dễ dàng và tức thời với rất nhiều thông tin, khiến việc che giấu sự thật là điều hầu như bất khả thi.

Ở Việt Nam, giống như nhiều quốc gia khác, chúng ta đang đối diện nhiều thách thức. Những mặt hạn chế do hậu quả tồn dư của thế kỷ 20, trong đó một nửa dưới sự cai trị của thực dân Pháp, một nửa trải qua chiến tranh và nghèo đói, càng khiến việc giải quyết những thách thức phía trước thêm khó khăn. Nhưng để vượt qua, trước hết chúng ta phải dũng cảm nhận diện, thẳng thắn chỉ ra những thách thức ấy. Với một quá khứ hào hùng như của Việt Nam, chúng ta không có lý do gì để sợ hãi khi nhìn thẳng vào sự thật.

Chỉ tính riêng so với các nước trong khu vực Đông Nam Á, chúng ta không nắm ưu thế về trình độ và kỹ năng lao động; sự phát triển kinh tế của chúng ta đang phụ thuộc quá nhiều vào nguồn lao động giá rẻ, thứ hấp dẫn những nhà đầu tư ngoại quốc: thu nhập tối thiểu của lao động Việt Nam chỉ là 110 USD/tháng, so với 160 USD của Trung Quốc hay 230 USD của Thái Lan. Việt Nam cũng vắng bóng trong danh sách 300 đại học hàng đầu châu Á; trong khoảng 15 năm qua, công bố khoa học của Việt Nam thấp hơn 18 lần so với Malaysia và 8 lần so với Thái Lan. Trong khi có 130 nghìn sinh viên Việt Nam du học nước ngoài, chỉ có 2.000 sinh viên quốc tế du học ở Việt Nam. Trên thế giới, chúng ta đứng thứ 170 trên 180 về chất lượng không khí, 154 trên 173 về các thiên tai.

Để vượt qua những trở ngại khó khăn, chiến thắng những thách thức, chúng ta, nhất là thế hệ trẻ, cần phải hiểu rõ chúng bởi tương lai đất nước nằm trong tay họ. Chúng ta cần khuyến khích họ mở to mắt và dám lên tiếng về điều họ nhìn thấy. Thế hệ trẻ không thể trưởng thành nếu họ chỉ được tiếp cận một chiều với những giấc mơ hồng. Tôi vẫn thường cảm nhận rằng hệ thống giáo dục của chúng ta hiện nay chưa trang bị cho họ khả năng đối diện với tương lai đầy thử thách, thất bại trong việc dạy họ bày tỏ thái độ, biết nói “không” và biết phẫn nộ trước những điều cần phẫn nộ, hay dám thay đổi những nguyên tắc khi chúng không còn phù hợp với thực trạng của một thế giới không ngừng biến động.

Sự thay đổi hướng tới tiến bộ ở mọi nơi, không chỉ Việt Nam, đều đòi hỏi vai trò của thế hệ trẻ. Chỉ họ mới có đủ tiềm năng để cống hiến bằng nhiệt huyết, lòng dũng cảm và sự quyết tâm mà sứ mạng đó đòi hỏi. Chúng ta cần phải khôi phục tinh thần công dân năng động, giúp lớp trẻ cảm thấy có trách nhiệm với tương lai của đất nước, biết trăn trở về những lợi ích chung hơn là của bản thân. Chúng ta cần hướng dẫn họ trở thành những người trưởng thành có trách nhiệm, nghĩa là để cho họ có quyền tự do biểu đạt những gì mà họ mong muốn, miễn rằng điều đó mang tính tích cực và được thực hiện trên tinh thần xây dựng. Xa hơn nữa, chúng ta cũng cần bao dung với những trường hợp khi nhiệt huyết của tuổi trẻ vô tình khiến họ trở nên đi xa hơn giới hạn cho phép.

Đó là tất cả những điều cần phải làm để giúp thế hệ trẻ trở nên năng động sáng tạo hơn, biết quan tâm tới tương lai của đất nước, và ý thức được rằng nó nằm trong tay họ, rằng họ sẽ trở nên sớm già nua nếu không hành động, ngay từ bây giờ, và họ sẽ bỏ lỡ cơ hội để có thể để lại một thế giới tốt đẹp hơn cho con cháu mai sau.

Hải Đăng dịch

Nguồn: tiasang.com.vn

“Để ăn”, tất nhiên là thế giới động và thực vật. Nhưng, để “suy nghĩ” về nó thì có lẽ quan niệm mạnh mẽ nhất là cho rằng có mối quan hệ thân thuộc hay thần bí giữa con người với một loại động vật hay thực vật nào đó.

Thực thể ấy thường được gọi là “vật tổ” (tôtem), được sử dụng hay tôn thờ như là danh hiệu hay biểu trưng.

Không chỉ bổ ích cho giới nhân học

Từ đó, “định chế vật tổ” (totemism) trở thành đối tượng nghiên cứu hấp dẫn đối với nhiều thế hệ những nhà nhân học Tây phương, vì họ nghĩ rằng có thể tìm thấy trong đó những nét sơ khai của tín ngưỡng tôn giáo và tổ chức xã hội nơi những tộc người “nguyên thủy” với nền kinh tế truyền thống dựa chủ yếu vào săn bắn hái lượm hay bắt đầu pha trộn với canh tác và chăn nuôi gia súc.

Nhiều công trình điền dã chi li với sự phân loại phức tạp các loại hình khác nhau của định chế tôtem (tôtem tộc người và tôtem cá nhân v.v..) nối nhau ra đời cùng với vô số những lý thuyết nhằm minh giải hiện tượng ấy. Tuy khác nhau không ít trong cách diễn giải về nguồn gốc, hình thức và tính chất, nhìn chung, các nhà nhân học (trước đây thường gọi là nhà dân tộc học) hầu như đều thừa nhận định chế này là “có thật” trong lịch sử, thậm chí như là chìa khóa để giải mã nhiều hiện tượng cổ sơ. Nhưng, sự việc, một lần nữa, cần được “suy nghĩ” lại!

Người ghi dấu ấn đặc biệt ấy là Claude Lévi-Strauss, nhà nhân học nổi tiếng người Pháp, trong Định chế tôtem hiện nay (1962), qua bản dịch công phu và đầy thẩm quyền của dịch giả Nguyễn Tùng, nhà xã hội học và nhân học làm việc lâu năm tại Pháp (NXB Tri Thức, 2017).

Là đại diện chủ chốt của thuyết cấu trúc, Lévi-Strauss cho rằng cần phải tiếp cận “định chế tôtem” vốn khó khăn và phức tạp này từ giác độ nghiên cứu về cấu trúc tiềm ẩn của nó. Điểm mới mẻ: Lévi-Strauss phủ nhận “thực tại” của định chế tôtem, thậm chí xem nó là “ảo tưởng” vì những thiên kiến và ngộ nhận có khi không tự giác của giới nghiên cứu Tây phương khi đi tìm những lối giải thích phù hợp với nhãn quan… “bá quyền văn hóa” của chính mình. Không phải ngẫu nhiên khi đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các tộc người gọi là “nguyên thủy” ở các lục địa lạc hậu. Trong bối cảnh ấy, Định chế tôtem hiện nay không chỉ lý thú và bổ ích đối với giới chuyên môn nhân học!

Không có vực thẳm giữa “người nguyên thủy” và “người văn minh”

Khác với nhiều nhà nhân học đi trước, Lévi- Strauss cho rằng nếu hiểu định chế tôtem như là sự tôn thờ thú vật và cây cối, hay ít ra có quan niệm về quan hệ thân thuộc giữa con người và thế giới không phải con người, thì không khác gì lẫn lộn các ranh giới giữa tự nhiên và văn hóa; và do đó, chính khai niệm vật tổ trở thành cơ chế thiết lập một vực thẳm giữa người “nguyên thủy” và người “văn minh”.

Trái lại, theo ông, định chế này phơi bày đặc điểm cơ bản và phổ quát của tư duy biểu trưng nói chung, hiểu giới tự nhiên như là mô hình để tư duy về những mối quan hệ xã hội, vì giới tự nhiên cung cấp một hệ thống những sự phân biệt có thể dễ dàng trực quan được để “đánh dấu” những sự khác biệt về văn hóa-xã hội, mà chưa cần dùng tới tư duy khoa học, khái niệm.

Những quan hệ xã hội rắc rối, trừu tượng được trình bày một cách dễ hiểu, trực quan, bằng hình ảnh, chẳng hạn bộ lạc “chim ưng” phân biệt với bộ lạc “gấu”. Chúng không hề có nghĩa là nguồn gốc xuất thân tự nhiên của bộ lạc cho bằng cung cấp cho con người một “bộ từ điển” hay một “bộ ngữ pháp” dành cho tư duy biểu trưng.

Nói cách khác, sự phân biệt giữa các nhóm người và các nhóm động thực vật là cơ sở khái niệm cho những khác biệt xã hội. Định chế tôtem, theo nghĩa ấy, là “ảo tưởng”, là “lôgíc của sự phân loại”, tức của sinh hoạt văn hóa mà thôi: cấu trúc của những quan hệ xã hội được phóng chiếu vào những hiện tượng tự nhiên, chứ không phải ngược lại.

Nhà nhân chủng học và dân tộc học, triết gia người Pháp Claude Lévi-Strauss (1908 – 2009)

Với quan niệm như thế, Lévi-Strauss đã đề xướng hai luận điểm quan trọng. Thứ nhất, về mặt lịch sử, “định chế tôtem” cho thấy là một ngộ nhận của các nhà nghiên cứu khi gán cho người “nguyên thủy” lòng tin rằng mình là hậu thân hay xuất thân từ thú vật hay cây cối. Theo ông, ngộ nhận này là dễ hiểu, nhưng có hàm ý (dù vô tình) rằng xã hội hiện đại tự xem mình là đỉnh cao của sự phát triển văn hóa, mà các xã hội nguyên thủy đã không bắt kịp bởi không muốn hay không thể.

Với luận điểm này, ông khôi phục lại vị trí của họ trong thế giới hiện đại, mặc dù không thể chối bỏ những sự khác biệt giữa thần thoại và khoa học, ma thuật và kỹ thuật, mê tín và lý tính. Thêm vào đó là não trạng dai dẳng của nhà nghiên cứu nhìn các tộc người gọi là “nguyên thủy” không chỉ là xa xôi trong không gian mà cả mịt mù về thời gian! Nguy hiểm hơn nhiều nếu nấp đàng sau não trạng ấy là động cơ muốn biến người khác trở thành cái gì xa lạ, quái gở (qua thuật ngữ khá đặc biệt trong tiếng Anh: Othering) để dễ thi thố chính sách kỳ thị và tự xoa dịu lương tâm, chối bỏ trách nhiệm. Một nguy cơ có thật và đang hiển hiện khắp nơi!

Thứ hai, câu hỏi gợi ra: làm sao phân biệt cấu trúc của tư duy biểu trưng và tư duy khoa học, mà không nhất thiết quy kết cái trước là lạc hậu. Chính vấn đề này đã dẫn Lévi-Strauss đến chỗ không xét đến tư duy của những người hoang dại (pensée des sauvages) nữa, mà về “tư duy hoang dại” (pensée sauvage) nói chung (cũng là tên quyển sách của ông, cùng năm 1962).

Ta nhớ đến câu nổi tiếng của ông trong Cấu trúc của thần thoại: “Lôgíc của tư duy thần thoại, về cơ bản, tỏ ra không khác gì với tư duy thực chứng cả. Vì sự khác biệt không phải ở trong phẩm chất của những thao tác trí tuệ cho bằng trong bản tính của những sự vật mà những thao tác ấy nhắm vào”. Và trong Định chế tôtem hiện nay, ông nhấn mạnh: “… giữa lôgic của tư duy tôn giáo và lôgic của tư duy khoa học, không có một hố thẳm”.

Cuộc thảo luận về “định chế tôtem” vẫn còn tiếp tục, và lý giải nặng về khía cạnh văn hóa-xã hội của Lévi-Strauss – cũng như nhiều vấn đề thuộc khoa học xã hội và nhân văn khác – tất nhiên không phải là giải đáp sau cùng. Nhưng cách đặt vấn đề của ông vẫn còn mang tính thời sự, và đúng như dịch giả Nguyễn Tùng, trong Lời giới thiệu đã viết: “Dù thuyết cấu trúc từ lâu đã thoái trào, cho đến nay giới trí thức Pháp nói chung vẫn đều khâm phục sự nghiệp khoa học đồ sộ và nghiêm túc của ông”. Lời giới thiệu công phu của dịch giả kèm thư mục dày dặn (riêng của tác giả đã đến hơn 50 quyển sách và hàng trăm bài viết!) luôn mời gọi giới nghiên cứu và người đọc Việt Nam.

Thêm nhiều tin vui: tủ sách Tinh Hoa của NXB Tri Thức, trong tháng đầu năm 2017, còn cho ra mắt hai dịch phẩm kinh điển quý giá: Bộ công cụ mới (Novum Organum) của Francis Bacon do Đỗ Minh Hợp và Nguyễn Trọng Chuẩn dịch, và Ngẫu nhiên và Tất yếu của Jacques Monod do hai dịch giả Hà Dương Tuấn và Đặng Xuân Thảo thực hiện.

Bùi Văn Nam Sơn

_______________

(*) Claude Lévi-Strauss, trong Định chế tôtem hiện nay

Nguồn: nguoidothi.net.vn