Lịch sử

TỪ NGUYÊN CỦA TỪ “VĂN HIẾN”

QUA BỐI CẢNH TRI THỨC NHO GIÁO VIỆT NAM- TRUNG HOA

Trần Trọng Dương

“Văn hiến” là khái niệm trước nay hay được sử dụng trong nhiều công trình nghiên cứu, nhất là nghiên cứu về lịch sử văn hóa Việt Nam thời Trung đại. Đây là một thuật ngữ của Nho gia có lẽ đã được sử dụng tại Việt Nam trong gần hai thiên niên kỷ qua. Mục đích của bài viết xuất phát từ quan niệm: khi nghiên cứu bất cứ một lĩnh vực nào thì người nghiên cứu nên tự đặt mình vào bối cảnh thời đại cũng như bối cảnh tri thức của thời đại đó, tộc người đó. Điều này sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn từ bên trong, tránh đi lối nhìn đã “hiện đại hóa” của đời sau. Chính vì vậy, bài viết sẽ khảo về từ nguyên của “văn hiến” để ngõ hầu lý giải được phần nào nội hàm của khái niệm này trong quá khứ từ đó góp phần vào việc nghiên cứu văn hiến nói riêng và văn hóa truyền thống nói chung.

Bài viết tiến hành khảo cứu về khái niệm văn hiến theo chiều lịch đại. Phương pháp khảo cứu của chúng tôi gồm các bước sau. Bước thứ nhất, khảo về cách hiểu về văn hiến qua ghi nhận của các từ điển được biên soạn sau khi Nho học bị bãi bỏ. Bước thứ hai, khảo khái niệm văn hiến trong bối cảnh văn hóa và ngôn ngữ của tiếng Hán, từ đó nhằm phân biệt nội hàm của khái niệm này giữa tiếng Việt và tiếng Hán. Bước thứ ba, khảo về khái niệm này thông qua sự ghi nhận của hệ thống từ điển và văn liệu của tiếng Việt lịch sử. Bước thứ tư, khảo về các văn cảnh của Hán văn Việt Nam (qua các tư liệu sử ký, văn bia đề danh tiến sĩ, văn sách đình đối, và các văn bản nghệ thuật khác), để từ đó phân suất các trường nghĩa của khái niệm này từ bối cảnh tri thức Nho học.

1. Từ cách hiểu về “văn hiến” sau khi Nho học bị bãi bỏ

Văn hiến là từ vựng gốc Hán, được viết bằng tự dạng 文獻. Kể từ sau khi Nho học bị bãi bỏ ở Việt Nam năm 1919, và nhất là kể từ sau khi chữ Hán chữ Nôm bị thay thế hoàn toàn vào năm 1945, thì văn hiến cùng những từ gốc Hán khác đã chịu chung một số phận. Đó là sự cắt đoạn rời khỏi lịch sử vốn có của nó. Thêm nữa, việc cắt rời ấy đã khiến cho ngành từ nguyên học gặp rất nhiều khó khăn; ấy là chưa kể đến những thất thiệt khác cho sự đọc hiểu và nghiên cứu về tiếng Việt. Mục này, bài viết sẽ tiến hành khảo lại các định nghĩa của một số từ điển tiếng Việt được biên soạn trong thế kỷ XX, để hiểu thêm về lịch sử các cách định nghĩa cho khái niệm này.

Đại từ điển tiếng Việt (2008) kế thừa và bổ sung “văn hiến: dt. Truyền thống văn hóa lâu đời, có nhiều nhân tài.”[1] Từ điển từ Hán Việt (2007) của Lại Cao Nguyện và Phan Văn Các và Từ điển tiếng Việt (2007) của Trung tâm từ điển ghi: “văn hiến.t.d. truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp”[2]. Từ điển bách khoa Việt Nam (2003) ghi: “văn hiến. truyền thống văn hoá tốt đẹp và lâu đời. Chu Hy đời Tống chú thích một câu trong sách “Luận ngữ” như sau: “Văn là điển tịch; hiến là tốt đẹp, tài giỏi” (sic). Như vậy, “văn hiến” nguyên nghĩa là văn chương, sách vở hay, bảo tồn truyền thống văn hoá lâu đời.”[3] Từ điển tiếng Việt (2000) của Viện Ngôn ngữ học ghi: “văn hiến d.truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp.”[4] Từ điển tiếng Việt (tb lần 2, 1977) do Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm chỉnh lý bổ sung ghi: “văn hiến.t. Cg. Văn vật. Yêu chuộng văn học, văn hóa: Việt Nam là nước văn hiến”[5] Từ điển Hán Việt từ nguyên (1999) của Bửu Kế ghi: “văn hiến. văn: sách sử. Hiến: kẻ hiền tài…Một nước có nhiều hiền tài có sử sách thì gọi là nước văn hiến”[6]. Tự điển Việt Nam của Ban Thu thư Khai trí (1971) ghi văn hiến cũng như văn minh.[7] Từ điển Việt Nam phổ thông (1951) của Đào Văn Tập, sau ghi giải thích đúng từ nguyên chữ văn hiến, lại phân suất nghĩa thành: “chỉ những cái hay trong một đời, đáng làm gương mẫu” [8]. Việt Nam tân từ điển (1951) của Thanh Nghị ghi: “văn hiến.d. sách vở hay và nhân vật tốt, nghĩa rộng như tiếng văn minh: nghìn năm văn hiến.”[9] Tự điển Việt- Hoa- Pháp (1937) của Gustave Hue ghi nhận văn hiến = văn minh[10]. Hán Việt từ điển giản yếu (1932) của Đào Duy Anh ghi: “văn hiến: sách vở và nhân vật tốt trong một đời.”[11] Việt Nam tự điển (1931) của Hội Khai trí Tiến đức ghi: “văn hiến文憲.học hành, hiền đức. Nơi văn hiến”[12]. Tuy nhiên, chữ Hán chế bản sai do đồng âm, 獻nhầm thành 憲. Đây là cuốn từ điển sớm nhất có mục từ này. Các từ điển của A.de Rhodes (1651) cho đến Huình Tịnh Của (1898) đều không thấy ghi nhận.

Có thể nói, các từ điển tiếng Việt hiện đại chỉ phân suất khái niệm này với một nét nghĩa chung chung mơ hồ. Đặc biệt là sự không phân biệt rạch ròi giữa khái niệm văn hóa và văn hiến, coi văn hiến là nền văn hóa tốt đẹp được kéo dài. Gần đây, để kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, bộ sách “Tổng tập Nghìn năm văn hiến Thăng Long” đã được ấn bản với số lượng trang sách lên đến 8000 trang, trong đó tinh thần làm việc của các soạn giả đều bàng bạc một sự mơ hồ về khái niệm.

Có tác giả, mặc dù sau khi đã bàn qua về từ nguyên của khái niệm văn hiến vẫn sẵn sàng quy tất cả những lĩnh vực như toán học, kiến trúc, thương nghiệp, nghề truyền thống, thiết kế đô thị, và…tinh thần yêu nước vào nội hàm của văn hiến[13]. Hơn thế nữa, cách hiểu ôm đồm ấy còn dẫn đến việc tác giả dùng các khái niệm (văn hiến, văn minh, văn hóa, văn vật,…) một cách lẫn lộn theo cảm hứng và xúc cảm của người cầm bút.

Năm 1998, Đỗ Trọng Huề đã định nghĩa như sau: “Văn hiến là trình độ văn hóa của một dân tộc đã thoát khỏi bóng tối của thời tiền sử để bước vào ánh sáng của thời kỳ lịch sử”[14].

Đặc biệt, trước đó, văn hiến còn được triết gia Kim Định sáng tạo theo phong cách tư duy triết học của mình, bất kể sự thực lịch sử và những giới hạn cho phép của từ nguyên học cũng như văn hóa học và lịch sử tư tưởng. Ông viết: “Văn hiến là những người hy hiến thân tâm cho văn hóa và được người trong nước kính nể nghe theo. Đó là một loại tông đồ và có thể nói ở đây cũng tìm ra được nét đặc trưng của nền văn hóa Việt Nho. Bên Ấn Độ tuy cũng có văn hiến nhưng không vươn lên đến địa vị cao nhất trong xã hội vẫn dành cho tăng lữ Brahmana. Bên Âu Châu còn kém nữa đến độ không có văn hiến, chỉ mới có văn hào, văn sĩ.” [15] Cách định nghĩa của Kim Định xuất phát từ cách ông hiểu về nguyên tự của văn hiến. Ông hiểu văn là văn hóa (theo nghĩa rộng và khá hiện đại), và hiến là hy hiến (hy trong từ hy sinh, hiến với nghĩa cơ bản của nó trong tiếng Hán là dâng hiến). Ông coi văn hiến là một danh từ trỏ người (người hy hiến, như văn hào, văn sĩ), chứng tỏ ông cũng từng biết đến nét nghĩa nguyên gốc thứ hai mà cổ nhân hiểu (hiến còn trỏ hiền nhân). Nhưng tư duy tư biện của ông quá mạnh!

Có thể nói, văn hiến là một khái niệm đến nay khá mơ hồ đối với người hiện đại, nhất là khi nó được so sánh với một số khái niệm khác như văn hóa[16], văn minh[17], văn vật[18]. Thực tế, những thuật ngữ cơ bản trên của ngành văn hóa học đều xuất phát từ kinh điển Nho giáo. Nguyễn Vinh Phúc nói “Phương Tây không có khái niệm văn hiến. Chỉ ở Việt Nam, Trung Quốc và những nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo mới có khái niệm này”[19] là hoàn toàn hữu lý.

Như trên đã bàn, văn hiến là một thuật ngữ của Nho gia, thuật ngữ này đã đi vào hệ thống từ vựng tiếng Việt khá sâu. Sâu đến mức nhiều người Việt (quãng gần 100 năm trở lại đây) dường như đã quên hẳn ý nghĩa từ nguyên của nó vốn được dùng trong quãng thời gian rất dài. Đây là một ví dụ cho thấy sự đứt gãy văn hóa do từ bỏ văn tự truyền thống (chữ Hán và chữ Nôm, và nhiều văn tự truyền thống khác).

Chúng tôi cho rằng từ văn hiến đã gia nhập vào Việt Nam từ trước đây khá lâu. Nếu theo lý thuyết, thì chữ này có thể được đưa vào nước ta cùng với kinh sách của Nho học cách nay 2000 năm, ít nhất từ thời Sĩ Nhiếp. Nhưng từ văn hiến thực sự là một yếu tố của tiếng Việt thì có lẽ chỉ trong khoảng 1200 năm trở lại đây[20]. Để xác định được thời điểm gia nhập của nó, chúng ta có thể tiến hành khảo cứu theo hai hướng. Hướng thứ nhất là tìm được ngữ liệu cụ thể của nó trong một văn bản tiếng Việt qua các văn bản Nôm. Hướng thứ hai là tìm được ngữ liệu cụ thể của nó trong văn bản Hán văn Việt Nam. Nhưng trước khi thực hiện những khảo cứu trên, bài viết sẽ tiến hành nghiên cứu về khái niệm này trong lịch sử tiếng Hán và văn hóa Hán.

2. Khái niệm văn hiến trong lịch sử tiếng Hán

2.1.Sách Luận ngữ thiên Bát dật có đoạn: Tử viết: Hạ lễ, ngô năng ngôn chi, Kỷ bất túc trưng dã; Ân lễ, ngô năng ngôn chi, Tống bất túc trưng dã; văn hiến bất túc cố dã” 子曰夏禮吾能言之杞不足徴也殷禮吾能言之宋不足徴也文獻不足故也 nghĩa là “Lễ nhà Hạ thì ta có thể bàn được, nhưng nước Kỷ (dòng dõi nhà Hạ) chẳng đủ để làm chứng; lễ của nhà Ân, thì ta cũng bàn được, nhưng nước Tống (dòng dõi nhà Ân) chẳng đủ để làm chứng. Ấy là vì văn hiến hai nước ấy không đủ”. Chu Hy chú: Văn, điển tịch dã; hiến, hiền dã 文典籍也獻賢也[21] nghĩa là: văn là điển tịch; hiến là người hiền vậy.

Đoạn này cho thấy ý rất quan trọng về văn hiến. Trong đó, ta nên chú ý đến mối quan hệ giữa văn hiến và lễ. Cộng với lời chú của Chu Hy thì ta có thể có tam đoạn luận sau:

Đoạn 1: Văn hiến = lễ

Đoạn 2: Văn = điển tịch ; Hiến = người hiền

Đoạn 3 Văn hiến = điển tịch (ghi chép về lễ) + người hiền (người chế lễ, hành lễ)

Đây có thể coi là nghĩa nguyên bản nhất của từ văn hiến từ bối cảnh tri thức của Nho học Trung Quốc, và cũng có thể coi đây là khái niệm trùng khít giữa Nho học Tiên Tần và Tân Nho học.

2.2. Sách Vũ cống đồi chỉ 禹貢錐指(quyển 19) của Hồ Vịnh đời Thanh: “自兩漢以降嶺南之風氣漸移犀象毒冒珠璣銀銅果布之湊於是乎在魁奇忠信材徳之民於是乎生一以為脂膏之地一以為文獻之邦 nghĩa là “từ đời lưỡng Hán về sau, phong khí Lĩnh Nam[22] dần đổi; cho nên sừng tê, ngà voi, đồi mồi, ngọc bích, vàng, đồng, hoa trái tích tụ đã nhiều; mà những bậc khôi kỳ, trung tín, tài đức xuất hiện cũng lắm, có thể coi [Lĩnh Nam] vừa là đất màu mỡ, vừa là nước văn hiến.”[23]

Đoạn này nhấn mạnh đến nhân vật – yếu tố chủ thể làm nên văn hiến của một đất nước. Nhân vật đó phải là bậc khôi kỳ, có đức trung tín và tài năng theo quan niệm của Nho giáo.

2.3. Từ điển Từ nguyên – cuốn từ điển phổ dụng được soạn vào đầu thế kỷ XX, đã giải thích trên cơ sở định nghĩa của Chu Hy, nên đã viết: “văn trỏ những tư liệu văn tự liên quan đến điển chương chế độ, hiến trỏ những người nghe rộng biết nhiều” [tr.0737].

Cách định nghĩa trên đây của từ điển Từ nguyên là tiếp thu tinh thần của Chu Hy. Tuy nhiên, định nghĩa hiến (trỏ những người nghe rộng biết nhiều) lại mang nét nghĩa hơi hẹp hơn so với thực tế. Bậc hiền đương nhiên là “bác lãm quần thư”, tri thức hoàn bị; song tri thức chỉ là một yếu tố, ngoài ra người hiền còn phải đáp ứng nhiều tiêu chí khác như đức độ, khí tiết, phải có chính tích, có trứ thư lập ngôn.

2.4. Từ điển Từ hải sau khi giải thích về từ nguyên, đã ghi nhận nghĩa của chữ văn hiến trong tiếng Hoa hiện nay chỉ còn một nghĩa mở rộng là “những tư liệu văn vật có giá trị lịch sử như: lịch sử văn hiến, đồng thời cũng chỉ những tư liệu sách vở quan trọng liên quan đến một ngành khoa học cụ thể, ví dụ: y học văn hiến. Nay (văn hiến) còn là tên gọi chung cho bất cứ một dạng vật chất nào sử dụng văn tự, tranh ảnh, phù hiệu, để kí tải tri thức, thông tin như: ấn phẩm, băng từ, đĩa CD, băng hình, bản in ốp sét”[24].

Tóm lại, có thể nói rằng, từ văn hiến trong tiếng Hán đã thu hẹp nét nghĩa ban đầu của Nho học, mà trỏ chung cho các tư liệu lưu trữ thông tin. Còn từ văn hiến trong các từ điển tiếng Việt hiện đại được biên soạn trong suốt thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI thể hiện sự bất nhất và không tường minh về mặt khái niệm như đã nêu.

3. Từ văn hiến trong tiếng Việt lịch sử

Chúng tôi tìm được văn liệu có niên đại sớm nhất là vào thế kỷ XVII trong cuốn Thiên Nam ngữ lục khi viết về Sĩ Nhiếp/ Tiếp 士燮[25]. Tác phẩm này đã ca ngợi “Nam Giao học tổ” như sau:

Quan quân mà lại thầy ta,
Phủ quân tôn vị hiệu là Sĩ vương
Nước nên “văn hiến chi bang”
Đức giáo chẳng nhường Đậu thị Hà Tây (câu 1930-1933)

Ca ngợi Sĩ Nhiếp ở các mặt:

tuần này ắt chẳng lo chi
mối giềng đã tỏ, luật lề đã phân
Đồng niên quý thuế có ngần
Quan quân rõ phép, binh dân rõ đường
Điều hòa chế độ kỷ cương
Mở kho giáo hóa, rỡ ràng nhân luân” (c.1924-1928)

Đoạn thơ trên ca ngợi họ Sĩ là bậc vương, bởi ông đã có công giáo hóa biến Giao Chỉ trở thành “văn hiến chi bang”. Về hình thức, ông là “quan quân”, nhưng thực tế ông lại là bậc sư biểu (thầy ta). Bậc sư biểu ấy đã dùng đức giáo để cho dân ta hiểu rõ “mối giềng”, “luật lệ”. Chữ mối giềng dịch từ chữ cương thường. Như thế, văn hiến ở đây tạm có thể phân suất được những nét nghĩa sau: 1.Cương thường (nhân luân); 2. Luật lệ (cho binh và dân); 3. Giáo hóa. Trong đó, cương thường là những thiết chế về mặt huyết tộc và đạo đức xã hội. Luật lệ là những quy phạm mang tính pháp chế và quản lý hành chính nhà nước.

Sử cũ đều ca tụng Sĩ Nhiếp là vị quan tốt, rất có uy tín trong dân chúng. Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt sử ký toàn thư: “Vương (Sĩ Nhiếp) độ lượng khoan hậu, khiêm tốn, kính trọng kẻ sĩ, người trong nước yêu mến, đều gọi là vương. Danh sĩ nhà Hán tránh nạn sang nương tựa có hàng trăm người”… Nước ta thông thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương, công đức ấy không những chỉ ở đương thời mà còn truyền mãi đời sau, há chẳng lớn sao? Đoạn trên cho ta hai nét nghĩa nữa của khái niệm văn hiến: 1. thông thi thư (thông: hiểu nằm lòng; thi: Kinh thi; thư: Kinh thư); 2.học Lễ và Nhạc.

Ngữ cảnh tiếng Việt thứ hai mà chúng tôi biết được, xuất hiện trong lời giáng bút của thánh mẫu năm 1923, có đoạn mở đầu như sau:

Sông Nhị núi Nùng, nước bốn ngàn năm văn hiến
Con Hồng cháu Lạc, dân hai mươi triệu đồng bào[26]

Văn cảnh này không cung cấp thêm nét nghĩa nào cho khái niệm văn hiến. Tạm thời chúng tôi không bàn đến quãng thời gian đã được kéo dài bằng tâm lý dân tộc bản vị. Giá trị là ở chỗ, đây là văn cảnh tiếng Việt sớm nhất xuất hiện cụm từ“bốn ngàn năm văn hiến”.

4. Khái niệm văn hiến qua bối cảnh tri thức Nho gia Việt Nam

4.1. Sách Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi do Lý Tử Tấn viết thông luận, có đoạn: “từ khi người Nguyên vào Trung Quốc, về sau thiên hạ biến thành nói tiếng Hồ, mặc áo Hồ. Không thay đổi thì chỉ có nước ta cùng họ Chu ở Kim Lăng, họ triệu ở Kim Sơn mà thôi. Đến khi Thái tổ nhà Minh lên làm vua, sai Dịch Tế Dân sang thông hiếu, vua Dụ Tông sai Doãn Thuấn Thần sang cống nhà Minh. Vua Minh úy lạo hỏi quốc sứ khen phong tục, y phục vẫn giống như văn minh Trung Hoa, ban cho bài thơ ngự chế rằng”:

安南際有陳 / 風俗不元人

衣冠周制度/ 禮樂宋君臣

An Nam tế hữu Trần/ Phong tục bất Nguyên nhân
Y quan Chu chế độ/ Lễ nhạc Tống quân thần.
(đất An Nam có họ Trần/ phong tục không theo người Nguyên
áo mũ[27] vẫn theo chế độ nhà Chu/ lễ nhạc vẫn hệt như vua tôi nhà Tống)

Rồi cho bốn chữ “Văn Hiến Chi Bang” và thăng địa vị cho sứ thần của Đại Việt lên trên sứ thần Triều Tiên ba cấp.”[28]

Đây là đoạn thông luận mà Lý Tử Tấn chua cho phần chính văn của Nguyễn Trãi đang gián tiếp bàn về văn hiến, đoạn ấy cụ thể như sau: “Người trong nước không được bắt chước ngôn ngữ và y phục của các nước Ngô[29], Chiêm, Lào, Xiêm, Chân Lạp để làm loạn phong tục trong nước”[30].

Đoạn văn trên cho chúng ta biết một số dữ kiện như sau: 1. Chữ văn hiến được dùng cho Đại Việt vào cuối đời Trần, điều này chứng tỏ 2. Nho sỹ đời Trần mạt ít nhiều tạo dựng được bối cảnh tri thức cũng như bối cảnh văn hóa Nho giáo ở một mức độ nhất định, đến mức vua Minh Thái Tổ làm thơ ngự chế và ban tặng đích danh bốn chữ “văn hiến chi bang文獻之邦” vào năm Đại Trị thứ nhất (1368)[31] 3. Như thế, đây là tư liệu thành văn sớm nhất khảo được (trái với quan niệm phổ biến trước đây, coi chữ văn hiến lần đầu xuất hiện trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi).

Đoạn văn trên cũng cho biết một số thông tin cụ thể về nội hàm của khái niệm văn hiến trong bối cảnh tri thức Nho giáo. Đó là bốn yếu tố: 1.Phong tục, 2.chế độ y quan; 3.chế độ lễ nhạc[32]. 4.Ngôn ngữ.

4.2. Chữ văn hiến được đưa vào văn chương trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi (1428):

維我大越之國/ 實為文獻之邦

Duy ngã Đại Việt chi quốc/ Thực vi văn hiến chi bang
Nghĩa là: Như nước Đại Việt ta/ Thực là nước văn hiến.

Thế kỷ XV trên bia tiến sĩ ở Văn Miếu Hà Nội khoa Quang Thuận thứ 4 (1463) có ghi đoạn văn sau: “Học trò may được khắc trên bia đá này, phải theo danh nghĩa sửa đức hạnh, bắt chước tính giữ gìn văn hiến”.

Tuy nhiên, hai ngữ cảnh trên đều không cho biết nội hàm của khái niệm văn hiến. Bình Ngô đại cáo cung cấp một thông tin lịch sử đáng chú ý, đó là sự ghi nhận Đại Việt “vốn xưng nền văn hiến đã lâu”. Phải chăng đây chính là cứ liệu quan trọng (duy nhất!) để các nhà làm từ điển hiện đại phân suất nghĩa của từ văn hiến thành “truyền thống văn hóa lâu đời” như đã nói đến ở trên?

4.3.Bài tựa Tân đính Lĩnh Nam chích quái tự新訂嶺南摘怪序 của Vũ Quỳnh trong sách Lĩnh Nam chích quái 嶺南摘怪được viết năm 1492 có đoạn như sau: 嶺南摘怪之書。所以嵇考古奇幻之事。憑諸俗話。出於群儒記載。蔓引輯述不一。蓋我越文敎最古。較諸國甚遠。其怪誕遺編。默付前鋻皆得於偶語常談。以愈世紀耳。況洪荒事迹。至歷千古。驗之無証著之難明。多有缺疑。豈可詳辨乎哉。Nghĩa là: Vốn sách Lĩnh Nam chích quái[33] nhằm khảo sát những việc quái lạ xưa nay, thường căn cứ vào lời kể dân gian, do các nhà nho chép thì rất nhiều và không thống nhất. Như nền văn hiến nước Việt ta, vốn rất cổ, so với các nước khác. Biết bao nhiêu điều quái lạ, được ghi lại, phản ánh việc xưa, đều là câu chuyện trao đổi hằng ngày của các thời kỳ đó.

Trong văn cảnh trên, văn hiến được coi như là những ghi chép (thư tịch) về chuyện kể dân gian.

4.4. Bài ký văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Đinh Mùi niên hiệu Cảnh Trị năm thứ 5 (1667) do Nguyễn Kiều[34] soạn và khắc năm Vĩnh Thịnh 13 (1717) có đoạn như sau: “kính nghĩ quốc triều nhân nghĩa dựng nước, văn hiến nức danh. Khoa thi Tiến sĩ đặt ra từ lâu, khắc đá đề tên quy mô to lớn…Thực nhớ một lòng sửa đức, trăm việc mở mang, chính sự tốt đẹp của nước nhà đổi thay rạng rỡ, hiền tài trong thiên hạ nượp nượp kéo về… Đến nay, hoàng thượng vẻ vang kế thừa ngôi báu, hết sức xây đắp cơ đồ, nắm giữ quyền bàn bạc nghi lễ, theo thể thức tôn quý người hiền…Như vậy đủ biết sự chế tác của thánh triều có quan hệ đến phong hóa”[35].

Đoạn văn trên cho biết một số dữ kiện về khái niệm văn hiến như sau: 1.Khoa cử; 2. Văn vật (khắc đá); 3. Hiền tài; 4. Nghi lễ. và 5.Phong hóa (phong tục giáo hóa)[36].

4.5. Thế kỷ XIX, trong sách Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú đã viết: “Khi nhà Lê dựng nước, văn hóa lại thịnh dần, hơn 300 năm chế tác đầy đủ kỹ càng, văn hiến đứng đầu trung châu, điển chương rạng cả triều đại” (Văn tịch chí, bản dịch, quyển 4, tr. 41).

4.6. Điện Thái Hòa (Huế) đời Nguyễn còn khắc một bài thơ như sau:

文獻千年國 / 車書 萬里圖
鴻龐開闢後 / 南服一唐虞

Phiên âm:
Văn hiến thiên niên quốc
Xa thư vạn lý đồ
Hồng Bàng khai tịch hậu
Nam phục nhất Đường Ngu

Nghĩa là:
Nước nghìn năm văn hiến
Cơ đồ[37] muôn dặm xa thư
Kể từ sau khi Hồng Bàng mở nước
Nước Nam lại là một Đường Ngu

Dịch thơ:
Nước văn hiến nghìn năm đã có
Mối xa thư muôn dặm cơ đồ
Hồng Bàng mở nước từ xưa
Nam bang lại một Đường Ngu thái hòa

Đây cũng có thể coi là một định nghĩa nữa về văn hiến. Trong đó, khái niệm quan trọng nhất là Xa thư. Xa là xe, thư là sách. Xa thư nguyên dẫn từ thiên Trung dung中庸sách Lễ ký: kim thiên hạ xa đồng quỹ thư đồng văn 今天下車同軌書同文 nghĩa là “nay thiên hạ: xe cùng cỡ trục, sách chung văn tự”, sau xa thư trỏ thể chế pháp độ của nhà nước theo mô hình Nho giáo. Xét về từ nguyên thì thể chế pháp độ ấy bao gồm văn tự- thư tịch và quy tắc xã hội. Sách Đại Nam quốc sử diễn ca của Phạm Đình Toái có câu: dõi truyền một mối xa thư, cũng là nói về văn hiến nước Đại Nam vậy.

4.7. Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội có đôi câu đối:

南邦文獻千年國
東魯儒宗萬世師

Nam bang văn hiến thiên niên quốc
Đông Lỗ nho tông vạn thế sư
Nam bang là nước ngàn năm văn hiến
Ngài sáng lập đạo Nho ở đất Đông Lỗ là bậc thầy của muôn đời.

Qua nội dung câu đối và bài thơ trên, có thể thấy văn hiến Đại Việt luôn được so sánh, đối chiếu với thời đại thịnh trị viễn cổ là Đường Ngu (nhà Chu) với các nhân vật lý tưởng, các thánh nhân của Nho gia như Chu Công, Khổng Tử. Rõ ràng, văn hiến là một khái niệm của Nho giáo, và được dùng bởi các nhà Nho thuần thành. Văn hiến được dùng để ngợi ca một cảnh tượng thái hòa về chính trị, bình ổn về xã hội và nhân tâm. Đặt trong, bối cảnh như vậy, những biểu tượng và ý nghĩa của khái niệm này đã dần rõ nét.

4.8. Bài văn sách đình đối của Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân Vũ Tông Phan khoa Bính tuất niên hiệu Minh Mệnh thứ bảy (1826): Hựu dĩ ngã Việt quan chi, Đinh bình sứ quân chi loạn, Lý xưng văn hiến chi bang, Lê phủ thái bình chi vận, trị nhật hà đa dã? 又以我越觀之丁平使君之亂李稱文獻之邦黎撫太平之運治日何多也nghĩa là: “Lại đem [sử] nước Việt ta ra mà xét, triều Đinh thì bình loạn sứ quân, triều Lý thì gọi là nước văn hiến, triều Lê chăm vận thái bình, thời gian trị vì sao nhiều vậy?”[38]

Đến đây, chúng ta thấy, sách vở thư tịch cũ đã ghi chép những đoạn khen ngợi , xác nhận nước ta là “văn hiến chi bang” từ thời Sĩ Nhiếp cho đến Lý, Trần, Lê, Nguyễn.

4.9. Bài văn sách đình đối của đệ nhị giáp tiến sĩ Nguyễn Đình Dương khoa Canh thìn niên hiệu Tự Đức thứ ba mươi ba (1880): Ngã quốc tố xưng văn hiến, nhi nhân gian thư tịch chi truyền, thực giác quả lậu. Bất duy ngoại quốc chư thư, nhân sở hãn kiến, nhi kinh, sử, tử, điển, diệc sở hãn kiến. 我國素稱文獻而人間書籍之傳實覺果漏不維外國諸書人所罕見而經史子典亦所罕見[39] Nghĩa là : Nước ta vốn xưng là văn hiến mà việc lưu truyền sách vở trong dân gian thực là ít ỏi. Không chỉ có các sách nước ngoài người ta ít được thấy, mà các sách kinh, sử, chư tử, điển chế cũng ít được coi .

5. Phân suất cấu trúc nghĩa của khái niệm văn hiến

Về mặt tự nguyên, Văn có bốn nghĩa: văn tự, ngôn ngữ, văn thư, và văn chương[40], cũng như chỉ những tư liệu nói chung có liên quan đến điển chương chế độ, hiến chỉ người hiền tài, chủ thể sáng tạo có học thức.

Mặt khác, từ những cứ liệu như đã dẫn ở trên, trong bối cảnh của tri thức Nho giáo, tạm thời có thể phân suất nghĩa của khái niệm văn hiến như sau.
1.Ngôn ngữ
2.Văn tự
3.Sách vở, điển tịch
4.Văn chương
5.Các yếu tố văn hóa- chính trị thuộc điển chương, chế độ của Nho giáo, như: chế độ y quan, chế độ lễ nhạc, pháp độ tiên vương, hiến pháp hoàng triều. Điển chương là “các khuôn phép lễ chế từ vua trước đặt ra’[41], chế độ là “những phép tắc định lập rõ ràng”[42], pháp độ là những quy định tiêu chuẩn (pháp) về hành vi để đánh giá (độ) phẩm hạnh, đức độ, học vấn của một người.
6.Phong tục (phong giáo): những ảnh hưởng của chế độ lễ nhạc quan phương đối với cộng đồng xã hội.
7. Giáo dục và chế độ khoa cử.
8. Người hiền tài (chủ yếu trỏ Nho sĩ, nhưng bản thân mỗi Nho sĩ lại là một phức thể dung hội Tam giáo và có thể còn hơn thế nữa, nên đối tượng ngoại diên thuộc loại hình nhân vật lịch sử này cũng khá là phong phú).
Có thể biểu diễn cấu trúc khái niệm văn hiến qua mô hình sau:

 

Tuy nhiên, ở từng yếu tố cũng cần phải có sự phân định một cách cụ thể. Thư tịch gồm những loại sách gì? Theo phân loại thời trung đại thì thư tịch được chia ra làm kinh, sử, tử, tập, tức các sách kinh điển, sách lịch sử, các sách trước tác của kẻ sĩ và các sách biên soạn lại khác. Theo thời gian, thì thư tịch chia làm hai loại: 1. Cổ thư (sách vở của người xưa để lại) và 2. Kim thư (sách do người đương thời soạn). Vì thế, khi nghiên cứu về văn hiến đời nào đó ở diện thư tịch, thì sẽ có hai hướng nghiên cứu. Thứ nhất là việc nghiên cứu cổ thư thuộc về nghiên cứu thư mục học. Cách nghiên cứu này dựa vào các bộ thư mục của từng thời đại để có thể biết được khối lượng tri thức của đời đó như thế nào. Thứ hai là nghiên cứu sách vở trước tác vào một giai đoạn lịch sử cụ thể đó. Và cuối cùng, đối với người nghiên cứu, thư tịch còn bao gồm cả những sách vở của đời sau sưu tập hay biên soạn về thời đại đó nữa.

Mặt khác, mối quan hệ giữa các yếu tố của khái niệm văn hiến cũng cần phải bàn đến. Ngôn ngữ văn tự được coi là yếu tố tiên quyết của một quốc gia văn hiến. Đặc biệt là văn tự, văn tự là một trong những phát minh quan trọng nhất để xác độ trình độ phát triển của một dân tộc. Có văn tự thì mới có thể ký chép sách vở. Sách vở có tính truyền thống, có ảnh hưởng đến nhiều người, là khuôn mẫu của muôn đời thì gọi là kinh điển. Kinh điển của cổ nhân là nguồn tri thức quan trọng nhất để tích lũy các tri thức và tạo nguồn cho trí thức của một cộng đồng. Khi đã có được vị trí nhất định trong một hệ thống chính trị quan phương, giới trí thức sẽ góp phần quan trọng để tái tạo và thi hành những điển chương của cổ nhân; đồng thời họ cũng sẽ tiến hành kiến tạo những chế độ mới, điển chương mới, phép tắc mới. Thêm nữa, bất kỳ một quan lại nào theo lối học cử tử ngày xưa cũng đồng thời là một văn sỹ. Cho nên, các sách vở biên soạn của cá nhân mỗi người cũng có thể coi là một nguồn thư tịch góp phần làm nên văn hiến của thời đó. Dù văn chương, lịch sử hay sách tư tưởng triết học đều xoay quanh khía cạnh điển chương giáo hóa, với chức năng “văn dĩ tải đạo”, “củng cố hồng đồ”. Sách vở góp phần tạo nên nhân tài với những chuẩn tắc của quá khứ, nhân tài dựa vào những chuẩn tắc cũ để thiết lập nên hệ thống chuẩn tắc mới (mang màu sắc cổ nhân) và biên soạn những sách vở mới. Đây có thể coi là một mô hình tái tạo tuần hoàn và sáng tạo khép kín của những nền văn hóa thuộc ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo.

Có thể thấy văn tự, thư tịch, hiền tài và điển chương chế độ là sản phẩm là kết quả của các hành vi chính trị – văn hóa. Chúng là phần nổi, phần dễ nhìn thấy của các hoạt động xã hội. Cụ thể, thư tịch là kết quả của quá trình biên soạn, trước tác, dịch thuật của cá nhân cũng như nhà nước. Hiền tài vừa là sản phẩm tự thân vừa là sản phẩm chính thống của chế độ khoa cử. Điển chương chế độ là yếu tố lũy tích của các triều đại, qua rất nhiều lần “chế lễ tác nhạc, định triều quy” (tức hành vi thiết định pháp độ và hệ thống hành chính). Các quá trình hoạt động văn hóa xã hội trên đều có thể quy vào quá trình kiến tạo văn hiến. Có thể thấy rõ điều này qua mô hình dưới đây.

 

 

Mô hình văn hiến và kiến tạo văn hiến trên đây tạm có thể coi như là bảng chuẩn để tiến hành khảo sát từng tiêu chí qua từng trường hợp cụ thể cho các giai đoạn lịch sử nhất định nào đó. Việc khảo sát này dựa trên những thư tịch cổ còn lại, cũng có khi có sự kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây.

Tiểu kết: Bài viết, từ việc khảo sát các văn cảnh xuất hiện chữ “văn hiến” trong các thư tịch Nho gia, đã phân suất được tám nét nghĩa của khái niệm này trong bối cảnh tri thức của những người biên soạn (là các nhà Nho) trong chiều dài lịch sử quãng 600 năm. Sự khảo sát này chỉ có tính chất thao tác và thực hiện thí điểm, chứ chưa phải đã bao quát hết toàn bộ tư liệu sách vở cổ của Việt Nam trong thời Trung đại, vì thế, kết luận và mô hình đưa ra ở đây tạm chỉ gói gọn trong những tư liệu mà chúng tôi hiện có. Việc áp dụng mô hình cấu trúc văn hiến từ bối cảnh tri thức Nho giáo cũng như khảo sát hoạt động kiến tạo văn hiến của các triều đại quân chủ trước đây cần được khảo sát qua từng nhân vật hay thời đại cụ thể từ đó mới cho phép chúng ta có một hình dung bước đầu về một nền văn hiến của dân tộc, góp phần vào việc nghiên cứu so sánh sự tiếp xúc văn hóa giữa Việt Nam và trung Hoa trong quá khứ xa xưa.

Nhuệ Giang, tháng 6 năm 2010- tháng 8 năm 2011

——————————————————————————–

[1] Nguyễn Như Ý (chủ biên). Đại từ điển tiếng Việt. Nxb.Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh. Tr.1744.

[2] Lại Cao Nguyện và Phan Văn Các. 2007. Từ điển từ Hán Việt. Nxb.KHXH. H. tr.534.

Trung tâm Từ điển học Vietlex. 2007. Từ điển tiếng Việt. Nxb. Đà Nẵng. tr.1697.

[3] http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn

[4] Viện Ngôn ngữ học. 2000. Từ điển tiếng Việt. Nxb. Đà Nẵng & TT từ điển học. tr.1100.

[5] Từ điển tiếng Việt (tb lần 2, 1977). Nxb.KHXH.H. tr.846.

[6] Bửu Cầm. (1999). Từ điển Hán Việt từ nguyên. Nxb. Thuận Hóa. Tr.2309.

[7] Ban Tu thư Khai trí, (1971), Tự- điển Việt Nam , Nhà sách Khai trí 62 Lê Lợi Sài Gòn. Tr.911.

[8] Đào Văn Tập, (1951), Từ điển Việt Nam phổ thông, Nhà sách Vĩnh Bảo, Sài Gòn. Tr.689.

[9] Thanh Nghị. (1951). Việt Nam tân từ điển, Nhà in Thời Thế 185/54 đường Colonel Grimaud- Saigon. tr.1428.

[10] Gustave Hue, (1937), Dictionaire Vietnamien Chinois Français ( Tự điển Việt- Hoa- Pháp), Nhà sách Khai trí, 62,Lê Lai-Saigon, 1971 (in theo ấn bản Imprimerie Trung Hòa). Tr.1113.

[11] Đào Duy Anh, (2001 -in theo ấn bản cũ 1932), Từ điển Hán Việt 辭 典 漢 越 , Nxb Khoa học Xã hội, Tp Hồ Chí Minh. Tr.537.

[12] Hội Khai trí Tiến đức, (1931), Việt Nam tự điển, HANOI Imprimerie Trung-Bac Tan-Van. Mặc Lâm xuất bản. tr. 626.

[13] Xem Nguyễn Vinh Phúc.2009.Sự hiện diện của văn hiến Thăng Long. www.tapchinhavan.vn

[14] Xem Đỗ Trọng Huề. 1998. Văn Hóa Và Văn Chương, Đặc San Gió Việt.Calgary, Canada.

[15] Kim-Định 1979. Hồn Nước với Lễ Gia Tiên. USA. tr.303.

[16] Văn hóa文化 là cách nói tắt của cụm văn chương giáo hóa: tức là dùng văn chương dạy dỗ, để cảm hóa và biến đổi đời sống tinh thần cũng như đời sống vật chất của một người hay một cộng đồng xã hội. Từ điển của Hội Khai trí Tiến đức ghi: “văn hóa: sự giáo dục do văn học đã thấm thía vào trí não người ta” [tr.626] Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh ghi: “văn hóa: văn vật và giáo hóa, dùng văn tự mà giáo hóa cho người” [tr.537]. “Lín lao thay v¨n ho¸ ph« bµy lan to¶, cao ngót thay mét phen ®¹i chÊn Nho phong.” [Bµi ký ®Ò danh TiÕn sÜ khoa QuÝ Mïi niªn hiÖu Quang ThuËn n¨m thø 4 (1463) kh¾c n¨m Hång §øc thø 15 (1484) do §µo Cö so¹n]

[17] Tạm thời có thể phân suất nghĩa từ nguyên của từ văn minh 文明như sau nghĩa thứ nhất là rực rỡ. Cái đức của nó cương kiện và văn minh, ứng với trời thì mùa vận hành, cho nên đứng đầu và hanh thông (Kinh dịch, quẻ Đại hữu). 2. Tt. Văn vẻ và sáng rực rỡ (dùng cho đạo đức, Nho), Vua Thuấn uyên thâm và văn minh (Tuấn triết văn minh) (Kinh Thư). 3. Tt. Trạng thái có giáo hóa, có đạo đức, có lễ nghi, có điển tắc. Thánh Tông Thuần Hoàng Đế sáng lập pháp chế, mở ra muôn đời văn minh (ĐVSKTT) Họ Đinh vốn dòng họ đàn anh, giữ được đất xa, có lòng hâm mộ phong thói văn minh, thường tỏ ý muốn phụ thuộc với Trung Quốc. (KĐVSTGCM) Phong tục văn minh của đất Lĩnh Nam bắt đầu từ hai thái thú ấy.(ĐVSKTT) Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh ghi: “cái tia của đạo đức phát hiện ra ở nơi chính trị, pháp luật, học thuật, điển chương,…” [tr.537].

[18] Văn vật 文物 1. dt. Những dấu ấn về vật chất thể hiện văn hiến của một triều đại. Thái tổ Hoàng đế ta được nhà Chu nhường ngôi, thanh danh, văn vật, biến đổi trở lại như xưa. (An Nam chí lược)// Vua khéo biết kế thừa, cho nên thời cuộc đi tới thái bình, chính trị trở nên tốt đẹp, văn vật chế độ ngày càng thịnh vượng, cũng là bậc vua tốt của triều Trần. (ĐVSKTT) 2. Dt. Các di vật cổ có giá trị về lịch sử và nghệ thuật. Hà Nội nghìn năm văn vật. KTTD chú văn vật nghĩa như văn hiến. Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh ghi: “những sản vật của văn hóa như lễ nhạc, chế độ” [tr.539]

[19] Nguyễn Vinh Phúc. Bdd.

[20] Nguyễn Ngọc San.. 2003. Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.

Nguyễn Tài Cẩn. 2001. Thử phân kỳ lịch sử 12 thế kỷ của tiếng Việt. Trong “Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hóa”. Nxb. Đại học Quốc Gia Hà Nội. Tr.401-411.

[21]Tứ thư dại toàn四書大全. Luận ngữ tập chú đại toàn論語集註大全(quyển 3 卷三). Bát dật đệ tam八佾第三. tr.14b.

[22] Lĩnh Nam: trỏ toàn bộ vùng đất từ phía Nam dãy Ngũ Lĩnh trở lại, gồm phần đất thuộc Quảng Đông, Quảng Tây và nước ta. Với người Việt, từ Lĩnh Nam cũng được dùng để trỏ lãnh thổ quốc gia của nước mình. Đại Nam quốc sử diễn ca có câu: Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta.

[23] Hồ Vị胡渭.( 乾隆四十三年Kiền Long tứ thập tam niên). Vũ cống đồi chỉ (hai mươi quyển)禹貢錐指二十巻.

[24] Từ hải. tr.1860.

[25] Sĩ Nhiếp 士燮 (137-226) tự là Ngạn Tín, người đất Quảng Tín, quận Thương Ngô, là Thái thú Giao Chỉ từ năm 187 đến năm 226 (cuối thời Đông Hán, đầu thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc). Sĩ Nhiếp được đánh giá cao nhất bởi có công trong việc duy trì tình trạng hòa bình yên ổn ở Giao Chỉ trong suốt giai đoạn nội chiến Tam Quốc hết sức phức tạp tại Trung Quốc kéo dài hơn nửa thế kỷ. Chính tích đó giúp Sĩ Nhiếp gần như trở thành một vị vua tự trị của quận Giao Châu, thoát hẳn ra khỏi ảnh hưởng và mệnh lệnh của nhà Hán. Điều đó thể hiện qua lá thư của Viên Huy, vốn là quan nhà Hán bấy giờ đang ở Giao Châu, gửi cho Thượng thư lệnh nhà Hán là Tuân Úc năm Đinh Hợi, Kiến An năm thứ 12 (207) đời Hán. Lá thư có đoạn: “Giao Châu Sĩ phủ quân đã học vấn sâu rộng lại thông hiểu chính trị, trong thời buổi đại loạn, giữ vẹn được một quận hơn hai mươi năm, bờ cõi không xảy ra việc gì, dân không mất nghiệp, những bọn khách xa đến trú chân đều được nhờ ơn, dẫu Đậu Dung giữ đất Hà Tây cũng không hơn được. Khi việc quan có chút nhàn rỗi thì chăm xem các sách thư, truyện. Phàm những chỗ biên chép không rõ ràng trong sách Xuân Thu Tả Thị truyện, (tôi) đem hỏi, đều được ông giảng giải cho những chỗ nghi ngờ, đều có kiến giải của bậc thầy, ý tứ rõ ràng, chặt chẽ. Lại như sách Thượng thư, cả cổ văn và kim văn, những ý nghĩa to lớn, ông đều hiểu biết tường tận, đầy đủ.”

Ông được coi là một vị quan cai trị có tài và được giới Nho học phong kiến Việt Nam sau này suy tôn là một trong những nhân vật mở đường cho Nho giáo ở Việt Nam. Nhiều nơi hiện còn thờ ông.

[26] Đào Duy Anh.1989. Nhớ nghĩ chiều hôm (Hồi ký). Nxb. Trẻ. tr. 216-218. Nhân đây xin gửi lời cảm ơn Ts. Nguyễn Xuân Diện đã chỉ dẫn nguồn tư liệu này.

[27] (1).áo và mũ. Thời cổ kẻ sĩ đội mũ trên đầu, nhân thế dùng để trỏ trang phục của lớp người này. (2).chuyên chỉ lễ phục. (3).thay chỉ cho các bậc sĩ đại phu. (4), chỉ văn minh lễ giáo.

từ điển Từ nguyên dẫn câu trong sách luận ngữ: “quân tử chính kỳ y quan” (người quân tử chỉnh tề mũ áo”, chua là, sau trỏ nơi hoàng đế nghe việc chính sự. [tr.1528]《ZDIC.NET 汉 典 网》

[28] Nguyễn Trãi. An Nam Vũ Cống安 南 禹 貢(q.6). Ngô Ngọ Phong 吳 午 峰, Nguyễn Thư Hiên 阮 舒 軒, Nguyễn Hi Tư 阮 希 思viết tiểu chú và lời bình; Lí Tử Tấn 李 子 晉 thông luận, Nguyễn Thiên Túng 阮 天 縱 tập chú. Trong Ức trai di tập (7.q). Phúc Khê tàng bản. Ký hiệu. VHv.1772/2-3. tr.30a-30b. Bản dịch tham khảo theo Phan Duy Tiếp và Hà Văn Tấn (hiệu đính, chú thích) trong Nguyễn Trãi Toàn tập tân biên (T2). Nxb. Văn học & TT Nghiên cứu Quốc học. H. tr.481-482.

Xem thêm Nguyễn Thanh Tùng. 2010. Về lai lịch bài thơ Đáp Bắc nhân vấn An Nam phong tục vẫn được xem là của Hồ Quý Ly. Trong “Thông báo Hán Nôm học năm 2009”. Nxb. Thế giới. Hà Nội. tr.1014-1027.

[29] Tức nhà Nguyên.

[30] Xem chú trên. Sđd.

[31] Đại Việt sử ký toàn thư (bản kỷ), q.7, tr.28a.

[32] “Tức Lễ và Nhạc, là các phạm trù chính trị và luân lý của Nho gia. Lễ là do điển chương, chế độ, lễ nghi từ thời Tây Chu trở đi phát triển thành. Thuyết văn: “Lễ tức là Lý vậy. Lễ dùng để thờ thần cầu phúc” Như vậy, Lễ lúc ban đầu là để chỉ việc thờ thần, sau mới mở rộng ra Lễ nghi. Sau này, Lễ dần dần tách khỏi Nghi và có ý nghĩa chính trị “trị quốc an bang”. Nhạc là âm nhạc. Thuyết văn: “Nhạc là tên gọi chung của ngũ thanh, Bát âm”. Trịnh Huyền chú thích Lễ Ký- Nhạc Ký: “Bát âm cùng nổi lên một cách hài hoà thì gọi là nhạc. Lễ nhạc gọi gộp thì chỉ chung hình thái ý thức xã hội và quy phạm đạo đức, chế độ đẳng cấp tông pháp của xã hội nô lệ, xã hội phong kiến. Tác dụng xã hội của nó là “quản lý quốc gia, ổn định xã tắc, giữ gìn trật tự trong nhân dân, làm lợi cho việc nối dõi về sau. (kinh quốc gia, định xã tắc, tự nhân dân, lợi hậu tự).” [Lao Tử- Thịnh Lê (chủ biên).2001. Từ điển Nho- Phật- Đạo. Nxb.Văn học. Hà Nội. tr.728]

[33] Chỉ cuốn sách gốc từ thời Trần, tác giả khuyết danh, mà Trần Thế Pháp đã chép được và đề Tựa năm Nhâm Tý hiệu Hồng Đức 23 (1492) tức bài Cổ thuyết tựa dẫn, trích ở phần sau sách Lĩnh Nam chích quái

[34] “Nguyễn Kiều (1695-1752 hiệu Hạo Hiên, người xã Phú Xá huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Phú Thượng huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội). Ông là chồng của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, 21 tuổi đỗ Tiến sĩ khoa Ất Mùi Vĩnh Thịnh 11 (1715) đời Lê Dụ Tông, làm quan Tả thị lang bộ Binh và được cử đi sứ sang nhà Thanh. Ông là tác giả của 4 bài văn bia tiến sĩ các khoa 1667, 1683, 1697, 1713).” [Theo Trịnh Khắc Mạnh.2006. văn bia đề danh tiến sĩ Việt Nam. Nxb Giáo dục. H]

[35] Trịnh Khắc Mạnh.2006.sđd.

[36] Từ Hải. tr.1851.

[37] Trong nguyên văn chữ đồ là một danh từ. Theo Hán ngữ đại tự điển, chữ đồ này mang nghĩa là pháp độ [Q thượng, tr.276], đây cũng là nguyên từ của các chữ cơ đồ, hồng đồ.

[38] Quốc triều Đình đối sách văn國 朝 庭 對 策 文, VHv.318/1 (Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm).

[39] Quốc triều Đình đối sách văn 國 朝 庭 對 策 文, ký hiệu VHv.318/2 (Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm).

[40] Xem thêm cách phân suất từ nguyên của Liam Kelley.2003. Vietnam as a ‘Domain of Manifest Civility’ (Văn hiến chi bang). Journal of Southest Asian Studies, Vol.34, No. 1, pp 63-76.

[41] Đào Duy Anh. Sdd. tr.276.

[42] Đào Duy Anh. Sdd. tr.158.

 

Nguồn: trantrongduong.blogspot.com

Pierre Darriulat 

Chúng ta, những người làm khoa học, tin rằng khoa học không bao giờ nói dối và sự thật sẽ luôn chiến thắng. Tuy nhiên, đôi khi nó có thể cần rất nhiều thời gian.

Chúng ta, những người làm khoa học, tin rằng khoa học không bao giờ nói dối và sự thật sẽ luôn chiến thắng. Tuy nhiên, đôi khi nó có thể cần rất nhiều thời gian.


Quan điểm của Lysenko về di truyền học được Stalin tán dương và hậu thuẫn bởi nó phù hợp với ý thức hệ Soviet. Nguồn: gonosiana.com.

Trong hơn 30 năm, từ thập niên 30 tới 60 của thế kỷ 20, nhờ vào sự hậu thuẫn của Stalin và tiếp đó là Khrushchev, Lysenko đã áp đặt quan điểm sai lầm của ông ta về di truyền học lên nền sinh học Liên Xô. Bản thân Stalin khi đó cũng rất thích thú và tán dương quan điểm của Lysenko, cho rằng những phẩm chất có được do sự đào luyện hoàn toàn có thể được truyền lại cho các thế hệ mai sau. Quan điểm này rất phù hợp với ý thức hệ Soviet khi ấy, nhắm tới xây dựng một hình mẫu con người lý tưởng mới. Lợi dụng đặc quyền của mình, Lysenko loại bỏ tất cả những nhà khoa học khác quan điểm với ông ta; đúng vào thời kỳ nở rộ ngành di truyền học trên thế giới. Từ nửa sau những năm 1930, đã có rất nhiều nhà di truyền học Soviet bị giết hại hay lưu đày tới những trại lao động cải tạo. Năm 1948, nhiều nhà di truyền học bị Lysenko kết tội “ngụy khoa học tiểu tư sản” và tất cả đều bị sa thải. Tổng cộng, có tới 3.000 nhà sinh học đã bị bỏ tù, sa thải, hay bị giết chỉ vì chống lại quan điểm của Lysenko. Phải tới năm 1962, ba nhà vật lý Soviet nổi tiếng là Ginzburg, Kapitsa và Zel’dovich mới có cơ hội công khai chỉ ra những sai lầm trong lý thuyết của Lysenko và sự bịp bợm của ông ta. Năm 1964, Sakharov tuyên bố trước Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô rằng Lysenko “phải chịu trách nhiệm cho sự tụt hậu đáng hổ thẹn của nền sinh học Soviet, đặc biệt trong lĩnh vực di truyền học, bởi hành vi phổ biến những quan điểm ngụy khoa học, bởi sự phiêu lưu không căn cứ của ông ta, khiến cho nền học thuật bị xói mòn, và cho sự lăng mạ, sa thải, bắt giữ, thậm chí cái chết của rất nhiều những nhà khoa học chân chính”.

Bằng cách nào người ta có thể che giấu sự thật trong vài thập kỷ trước sự chứng kiến của cả một cộng đồng các nhà khoa học đầy năng lực như vậy. Tôi từng trao đổi về điều này với một số nhà khoa học Liên Xô. Họ giải thích đó là hậu quả của một thời kỳ mà môi trường học thuật đầy sự nghi kỵ cùng với chính sách hạn chế tự do tư tưởng cực đoan và phi lý. Nhiều nhà khoa học đã an phận thủ thường, không dám lên tiếng; họ biết rằng nếu lên tiếng thì chẳng những không giúp gì cho việc bảo vệ sự thật mà còn tự chuốc lấy nguy hiểm cho sự nghiệp, thậm chí cả tính mạng. Còn những nhà quản lý vì sợ hãi cấp trên thường tỏ ra cực đoan hơn mức cần thiết. Họ không hề phân biệt giữa những người có mục đích chống đối chính quyền với những người lên tiếng vì sự tiến bộ của đất nước. Chính điều đó đã dẫn tới nạn chảy máu chất xám trong giới trí thức Liên Xô, một tổn thất nghiêm trọng đối với chế độ.

Ngày nay thật khó hình dung một kịch bản tương tự có thể xảy ra, bởi hiển nhiên nó đi ngược lại lợi ích của khoa học cũng như quốc gia. Internet và những nền tảng công nghệ khác cho phép mỗi chúng ta có khả năng tiếp cận dễ dàng và tức thời với rất nhiều thông tin, khiến việc che giấu sự thật là điều hầu như bất khả thi.

Ở Việt Nam, giống như nhiều quốc gia khác, chúng ta đang đối diện nhiều thách thức. Những mặt hạn chế do hậu quả tồn dư của thế kỷ 20, trong đó một nửa dưới sự cai trị của thực dân Pháp, một nửa trải qua chiến tranh và nghèo đói, càng khiến việc giải quyết những thách thức phía trước thêm khó khăn. Nhưng để vượt qua, trước hết chúng ta phải dũng cảm nhận diện, thẳng thắn chỉ ra những thách thức ấy. Với một quá khứ hào hùng như của Việt Nam, chúng ta không có lý do gì để sợ hãi khi nhìn thẳng vào sự thật.

Chỉ tính riêng so với các nước trong khu vực Đông Nam Á, chúng ta không nắm ưu thế về trình độ và kỹ năng lao động; sự phát triển kinh tế của chúng ta đang phụ thuộc quá nhiều vào nguồn lao động giá rẻ, thứ hấp dẫn những nhà đầu tư ngoại quốc: thu nhập tối thiểu của lao động Việt Nam chỉ là 110 USD/tháng, so với 160 USD của Trung Quốc hay 230 USD của Thái Lan. Việt Nam cũng vắng bóng trong danh sách 300 đại học hàng đầu châu Á; trong khoảng 15 năm qua, công bố khoa học của Việt Nam thấp hơn 18 lần so với Malaysia và 8 lần so với Thái Lan. Trong khi có 130 nghìn sinh viên Việt Nam du học nước ngoài, chỉ có 2.000 sinh viên quốc tế du học ở Việt Nam. Trên thế giới, chúng ta đứng thứ 170 trên 180 về chất lượng không khí, 154 trên 173 về các thiên tai.

Để vượt qua những trở ngại khó khăn, chiến thắng những thách thức, chúng ta, nhất là thế hệ trẻ, cần phải hiểu rõ chúng bởi tương lai đất nước nằm trong tay họ. Chúng ta cần khuyến khích họ mở to mắt và dám lên tiếng về điều họ nhìn thấy. Thế hệ trẻ không thể trưởng thành nếu họ chỉ được tiếp cận một chiều với những giấc mơ hồng. Tôi vẫn thường cảm nhận rằng hệ thống giáo dục của chúng ta hiện nay chưa trang bị cho họ khả năng đối diện với tương lai đầy thử thách, thất bại trong việc dạy họ bày tỏ thái độ, biết nói “không” và biết phẫn nộ trước những điều cần phẫn nộ, hay dám thay đổi những nguyên tắc khi chúng không còn phù hợp với thực trạng của một thế giới không ngừng biến động.

Sự thay đổi hướng tới tiến bộ ở mọi nơi, không chỉ Việt Nam, đều đòi hỏi vai trò của thế hệ trẻ. Chỉ họ mới có đủ tiềm năng để cống hiến bằng nhiệt huyết, lòng dũng cảm và sự quyết tâm mà sứ mạng đó đòi hỏi. Chúng ta cần phải khôi phục tinh thần công dân năng động, giúp lớp trẻ cảm thấy có trách nhiệm với tương lai của đất nước, biết trăn trở về những lợi ích chung hơn là của bản thân. Chúng ta cần hướng dẫn họ trở thành những người trưởng thành có trách nhiệm, nghĩa là để cho họ có quyền tự do biểu đạt những gì mà họ mong muốn, miễn rằng điều đó mang tính tích cực và được thực hiện trên tinh thần xây dựng. Xa hơn nữa, chúng ta cũng cần bao dung với những trường hợp khi nhiệt huyết của tuổi trẻ vô tình khiến họ trở nên đi xa hơn giới hạn cho phép.

Đó là tất cả những điều cần phải làm để giúp thế hệ trẻ trở nên năng động sáng tạo hơn, biết quan tâm tới tương lai của đất nước, và ý thức được rằng nó nằm trong tay họ, rằng họ sẽ trở nên sớm già nua nếu không hành động, ngay từ bây giờ, và họ sẽ bỏ lỡ cơ hội để có thể để lại một thế giới tốt đẹp hơn cho con cháu mai sau.

Hải Đăng dịch

Nguồn: tiasang.com.vn

Lý tưởng của thanh niên An Nam (phần 2)

Nguyễn An Ninh
 

Tagore nói về Ấn Độ có nói câu này đáng cho ai lo cho ngày mai của dân ta để tâm suy nghĩ. Nhắc đến một thời xôn xao bên Ấn Độ, ông nói: “Trí tôi lúc ấy không chịu để cho mấy cái rung động, xôn xao của các cuộc vận động chính trị thời đó mê hoặc, vì mấy cái xôn xao ấy không có nghĩa lý gì cả; trong đấy không có lực lượng nào thực sự có tinh thần dân tộc, trong đấy hoàn toàn không hiểu biết gì về đất nước và từ đáy lòng thì dửng dưng với việc phụng sự Tổ Quốc”. Và bên cạnh cái vinh quang của một nhà thơ lớn, ông Tagore còn mang lại gì cho đất nước Ấn Độ? Ông đã hết lòng hết sức vì sự nghiệp giáo dục quốc dân, đã sáng tác ra bao nhiêu tác phẩm văn chương bằng tiếng Bengali, các tác phẩm này được dịch ra nhiều thứ tiếng và tung ra khắp châu Âu. Ta hãy nghe ông Ananda Coomarasvvany, một nhà thông thái của Ấn Độ giới thiệu về nền giáo dục quốc dân đó.

Trong những trường công lập, có hai hay ba trường đặc biệt quan trọng: trường của Rabindranath Tagore tại Bolpour, trường Kalasala ở Masulipatam, trường Gurukula của Arya Samaj ở Hardwar.

Trong các trường này, người ta dạy bằng tiếng địa phương, tiếng Anh chỉ giữ vai trò thứ yếu, mặc dù hãy còn rất quan trọng; người ta muốn tránh một tình trạng nguy hiểm là giới trí thức đào tạo ra lại chẳng nói được thông thạo một thứ tiếng nào hết. Mọi người đều cho rất đúng là trường Gurukula là có phương pháp sư phạm hay nhất, hấp dẫn nhất thế giới. Trường này chỉ nhận con trai, thuộc mọi giai cấp, không hề phân biệt. Học không tốn học phí và thầy giáo cũng không có lương. Trong 7 năm đầu, dạy hoàn toàn bằng chữ Phạn, dạy đạo giáo và tập luyện thể thao; 12 năm sau đó, dạy văn chương Âu Tây, dạy khoa học và thực nghiệm. Đến chừng 25 tuổi, anh thanh niên ra trường là đã sẵn sàng để lao vào cuộc sống. Suốt thời gian học, học sinh được giao phó cho thầy giáo và không được về gia đình. Học sinh không được gặp một người phụ nữ nào khác hơn là mẹ mình. Cũng có những trường đại loại như vậy dành riêng cho con gái, tuy có phần đỡ nghiêm khắc hơn; điều này ngược lại với đạo lý xã hội Ấn Độ vốn đòi hỏi những đôi trai gái cưới nhau phải cùng trình độ học vấn.

Đặc điểm của hệ thống giáo dục đó là quay lại với những ý niệm triết lý của văn hoá Á Đông, biết kết hợp hài hoà giữa đạo lý của các bậc hiền triết cổ xưa với kiến thức thực dụng của thời hiện đại”.

Đây là những cố gắng hay ho của một nền giáo dục quốc dân, là một nhiệm vụ mà ý nghĩa của nó khó lọt vào tai của các ông chưa quen thuộc với những cách nói như thế, nhưng đó chính là lý tưởng của những tâm hồn cao đẹp của nước Ấn Độ.

“Ngày nay đối với những bậc cao siêu của nước Ấn Độ- Ananda Coomarrasvvanys nói- chủ nghĩa dân tộc chưa đủ. Chủ nghĩa yêu nước đã trở thành buồn chán, chỉ hấp dẫn đối với người gác chuông, giữ chùa, còn tâm hồn cao thượng phải vươn tới những vai trò cao đẹp hơn, họ không thể chỉ là những nhà truyền giáo hay tuyên truyền. Đã qua rồi thời đại của những phe nhóm biệt phái, buộc người ta phải cầu luỵ khi muốn trở thành “người cùng phái” công việc của họ. Những nhà trí thức cao thượng của Ấn Độ ngày nay cũng như tất cả chúng ta có phận sự phải tìm ra hàng ngàn con đường chưa khai phá.

“Cuộc sống- tất nhiên không phải là cuộc sống riêng của Ấn Độ- đòi hỏi chúng ta phải trung thực. Theo đuổi độc lập cho dân tộc mình chưa đủ; lý tưởng hướng ta phải lo cho cả nhân loại nữa, chớ không riêng gì hạnh phúc của mình. Vì lẽ những con người cao cả thường theo đuổi những mục tiêu xa hơn là dành thì giờ cho những cuộc phù du”.

Ông còn nói: “Vai trò quan trọng trên thực tế và duy nhất của nước Ấn Độ đối với thế giới là phát hiện cho thế giới những con người vĩ đại, cống hiến họ cho cuộc sống chung; một triết gia lớn, một thi nhân, một hoạ sĩ, một nhà thông thái, hoặc một ca sĩ, đến ngày phán xét cuối cùng sẽ có giá trị gấp bao lần những nhượng bộ mà chúng ta giành được sau hàng trăm năm tranh đấu nghị trường”.

Phải chăng những lời nói như vậy rất xa lạ với lỗ tai các bạn, là những phím nhạc hoàn toàn xa lạ, mới mẻ cho đến ngày nay? Và những mơ ước đó đối với các bạn thật xa vời biết bao nhiêu, và cũng rất khó mà chấp nhận ngay được.

Qua một vài câu chuyện, tôi chỉ muốn vạch ra cho các bạn thấy rõ thế nào là nước Ấn Độ trẻ, so với nước An Nam trẻ của chúng ta. Tôi cũng hiểu rằng nói đến những vĩ nhân cho đất nước này là việc quá cao, khó mà với tới được, và đối với một số người nhu nhược yếu đuối, không còn nghị lực, nản lòng thối chí vì những việc nhỏ nhoi làm như sống thì không phải tranh đấu. Đối với một dân tộc, đang tránh né mọi cố gắng và đang ru ngủ mình trong sự lười biếng và vô trách nhiệm, mà còn nói đến vĩ nhân thì quả thật là một điều đáng tức cười. Nhưng tại sao ta lại không có quyền nói đến vĩ nhân, trong khi ta đang cần những bậc vĩ nhân, cần sự xuất hiện như hoa nở rộ những bậc vĩ nhân, những con người đã mang lại một vị trí xứng đáng cho dân tộc mình.

Nước Ấn Độ dù trong cảnh áp bức của nước Anh, vẫn có những triết gia, những nhà thơ, những nhà bác học của mình, những nhà lãnh tụ đang lãnh đạo phong trào quần chúng.

Hơn cả nước Ấn Độ, đất nước chúng ta còn cần biết bao những con người hiểu biết tâm hồn nòi giống mình, hiểu biết những nhu cầu tinh thần và những gì phù hợp với tâm nòi giống chúng ta; chúng ta đang cần những con người có khả năng hướng dẫn từng bước đi cho dân tộc, soi sáng con đường đi của dân tộc; chúng ta cần những nhà nghệ sĩ, nhà thơ, hoạ sĩ, nhạc sĩ, các nhà bác học để làm giàu di sản trí tuệ của dân tộc. Như vậy, không những chúng ta phải nói không ngừng về nhu cầu có những bậc vĩ nhân, mà chúng ta còn phải ước ao có thật nhiều vĩ nhân, lớn tiếng kêu gọi cho họ đến- kêu gọi với tất cả sức mạnh của buồng phổi chúng ta- phải vang lời kêu gọi qua núi cao, sông rộng, qua không gian bao la, thần bí , mà âm thanh giọng nói con người có thể vượt qua để đến tận những cõi xa thăm thẳm,- bằng tất cả sức mạnh của buồng phổi chúng ta, kêu gọi các bậc vĩ nhân (1) phải đến. Biết đâu từ những lời kêu gọi chân thành nồng nhiệt của chúng ta lại chẳng xuất hiện sức mạnh tạo ra được những thiên tài, những con người xuất chúng. Hãy chiêm ngưỡng, mong ngóng nhân tài như tôn sùng đạo giáo, hãy cầu nguyện không ngớt cho đất nước sản sinh được nhân tài. Mọi người hãy kêu gọi, van xin, cầu khẩn cho toàn cõi đất nước An Nam này cùng kêu gọi và mong chờ trong niềm lo âu và hồi hộp. Chừng đó, tôi cam đoan với các bạn, trong một tương lai rất gần, tiếng dội của những âm thanh đó sẽ đáp lại lời kêu gọi của chúng ta và lòng mong đợi của chúng ta sẽ được đền đáp.

Ở một mức thấp hơn những mơ nước cao siêu đó, có những tham vọng gần gũi con người hơn, tuy nhiên nó vẫn cao đối với đông đảo quần chúng, nhưng hoàn toàn thực hiện được với những con người cương nghị.

Ước vọng có một quyền lực như một vị vua, dùng được sức mạnh của cả một nước, trở thành một nhà tài phiệt mà gia tài làm đảo điên vận mệnh của một dân tộc; sống mà đạt được những cao vọng như thế có phải chăng là đáng sống?

Tôi vừa nói đến những mong ước hãy còn quá xa vời đối với các bạn. Một thanh niên ta ngay nay chỉ cần muốn trở thành một Bùi Quang Chiêu, một Nguyễn Phan Long, muốn trở thành một bác sĩ Thinh hay Đôn, một kỹ sư Lang, cũng đã là quá lắm. Các bạn thử nhìn, thử quan sát đám thanh niên đầy tham vọng đang dập dìu trên đường phố, giữa những gánh hàng rong, để đánh hơi những người phụ nữ. Đám thanh niên ấy có tướng đi như vịt đực, quái gở trong những bộ y phục Âu Châu, và chắc các bạn không khỏi phì cười, các bạn bật cười tự hỏi làm sao một cao vọng như thế lại có thể ẩn sau một lớp áo như thế. Muốn được như một bác sĩ Thinh hay kỹ sư Lang, phải có được cái thông minh và kiên trì của hai ông- hơn thế nữa, muốn được nhiều người biết tiếng như hai ông ấy thì cả tài đức và danh tiếng đều phải cao hơn.

Và thanh niên ta ngày nay thì có đủ khả năng để làm gì? Không ai cấm chúng ta phác hoạ mơ ước, có được ước mơ và cao vọng. Ước mơ lại là cần thiết, vì từ những ước mơ, nhân loại đã tạo được ra bao nhiêu công trình vĩ đại trong thực tế. Ước mơ, ước mơ đi! Các bạn hãy ước mơ thật nhiều, nhưng phải hành động. Vì sống là hành động. Những ai đã nói đến hành động là nói đến cố gắng. Nói cố gắng nghĩa là nói trở lực. Và trở lực làm cản ngại ước mơ cao vọng của ta còn nhiều, nhiều lắm, mà trở ngại lớnn hất lại nằm trong bản thân chúng ta. Chúng ta thiếu cái trì chí để hâm nóng mãi ước mơ, nhất là chúng ta thiếu quyết tâm để đạt đến mục đích.

Ngay cả khi ta đã có đủ sức mạnh để thực hiện những mong ước, chúng ta lại còn phải có ý chí vươn lên, với niềm khát vọng bất tận đạt đến một cái gì tốt đẹp hơn, hoàn hảo hơn. Chúng ta cũng phải luôn nuôi một cao vọng vượt hơn bè bạn, vươn lên hàng đầu.

Người ta (N.A.N ám chỉ bọn thực dân) hay nói về sự vong ơn, sự vô đạo đức, sự hỗn loạn, nhưng chúng ta không thèm đếm xỉa đến tất cả những hạng người phản động, hạng người đầu độc đó. Họ có xứng đáng với lòng biết ơn của chúng ta không, những người kể công đó?

Thế còn ngăn trở cuộc sống vươn lên, diệt nguồn sinh lực của người khác, thì có phải là một hành vi vô đạo đức nữa, phải nói là dã man! Họ nói đến hỗn loạn, nhưng họ gọi hỗn loạn là gì? Họ gọi trật tự là gì? Cái trật tự của họ đấy ư? Là trật tự hay là cưỡng bức, là dã man, là hỗn loạn?

Chúng ta không phải bàn cãi nhiều và chỉ cần nhận thức rằng mọi sức mạnh đều gây khuất động chung quanh nó, mà quy luật cuộc sống cũng đòi hỏi phải nhẫn tâm.

Vả lại, suy cho cùng, muốn cho xã hội loài người tồn tại và tiến bộ, thì sự hỗn loạn há chẳng cần thiết hay sao? Có hỗn loạn mới có thống nhất, cũng như tính thống nhất là kết quả của sự hỗn loạn vậy.

Cũng như trong cuộc sống, điều ác cần đến điều thiện và điều thiện cần có điều ác, hỗn loạn đòi hỏi phải thống nhất và một thể thống nhất lại cần có sự hỗn loạn đòi hỏi phải thống nhất và một thể thống nhất lại cần có sự hỗn loạn bên trong thì mới tránh được sự kết tinh, tức là huỷ diệt.

Người ta nói với chúng ta về cái hoàn hảo của các tổ chức do các bậc tiền bối để lại, về những học thuyết của các nhà hiền triết cổ xưa. Nhưng con người phải sống với hiện tại, và chỉ có quên lãng mới là đức tính duy nhất nuôi dưỡng được ý chí ham sống nơi ta.

Những vấn đề lớn mà xã hội cần quan tâm cũng phải được hướng về hiện tại và về cái trước mắt.

Muốn chữa trị những nỗi đau ngày nay thì phải có phương thuốc của ngày nay. Sự sống của nhân loại xoay vòng như bốn mùa, nên phải ăn theo thời, ở theo tiết. Những kinh nghiệm xa xưa về cuộc sống bị vùi lấp trong quá khứ xa xôi mờ mịt của lịch sử, không còn giữ được ảnh hưởng tức thì đối với thế hệ ngày nay. Những tiếng nói yếu ớt nhắc nhở cho chúng ta những răn dạy của các bậc hiền triết xưa, những tiếng nói ấy nay chỉ còn là những tiếng vọng xa xôi, thoáng qua rồi tắt lịm trên vành tai.

Thế hệ thanh niên ngày nay cần có những lý tưởng mới, lý tưởng của chúng ta, những hoạt động mới, hoạt động riêng của chúng ta, những đam mê mới, đam mê của chúng ta.

Chỉ có trong điều kiến đó- điều kiện duy nhất đó mà thôi- thì mới có thể tạo ra một tương lai tốt đẹp. Cuộc sống- tôi không nói cuộc sống riêng của dân An Nam ta- mà cuộc sống chung cho mọi người, phải luôn được đổi mới, đổi mới trường cửu.

Nhiệm vụ của thế hệ thanh niên ta ngày nay thật là nặng nề. Giai đoạn lịch sử của chúng ta ngày nay lại càng làm cho nhiệm vụ đó nặng gấp bội lần.

Con người ai cũng có quyền nghĩ riêng đến hạnh phúc và cuộc sống của mình. Nhưng muốn có được hạnh phúc đó và cũng để tránh khỏi bị nghi ngờ, bị hành hạ, thì con người ta này nay buộc phải bán mình. (1) (1)– Bán mình= làm việc cho bộ máy cai trị thuộc địa]

Trong điều kiện như vậy, làm sao họ có thể vươn đến một vai trò đòi hỏi họ phải thoát khỏi mọi sự cưỡng bức, mọi sức thúc ép họ, đòi hỏi ở họ một ý thức về sứ mạng của mình, đòi hỏi họ phải luôn luôn nâng cao giá trị mình lên ngang với sứ mạng đó.

Chúng ta sinh ra trong một đất nước thiếu thốn mọi bề, cái gì cũng phải tạo lập ra, sinh vào một thời buổi mà mọi sáng kiến thông minh đều bị người ta ghét bỏ. Ở đây có hai sức mạnh đối chọi nhau, hai cuộc sống đang tranh giành nhau: Một đàng yếu ớt đang cố tìm một chỗ đứng dưới mặt trời, một đàng mạnh mẽ, lại còn rút xỉa đến kiệt quệ, nhằm tiếp ứng cho một con quái vật ở xa. Và chính là cái yếu đang kêu gọi chúng ta giúp đỡ.

Đã sinh ra trên mảnh đất này thì lương tri ta đã buộc ta phải lãnh lấy sứ mạng. Còn ai khác hơn chúng ta có thể ra đảm đương trọng trách đó?

Chỉ có dòng máu chảy trong huyết quản của ta mới giúp chúng ta hiểu được những nhu cầu của nòi giống. Cho dù nước Pháp có đầy thiện ý đi nữa thì ở đây họ cũng sẽ phải mò mẫm và hao phí sức lực. Trong bổn phận đó, nước Pháp chỉ có khả năng làm một việc là giúp đỡ chúng ta. Bổn phận của họ là phải giúp đỡ chúng ta , vì bảo hộ là dìu dắt, mà dìu dắt thì không phải là cứ để cho mãi mãi non nớt.

Vì lẽ chúng ta phải tạo lập nên sự nghiệp của mình, nên thanh niên ta ngày nay phải biết nhìn về tương lai và làm sao đưa tương lai đó đến gần, càng sớm càng tốt. CHúng ta phải biết dang chân ra, một chân đặt vững chắc trong hiện tại, chân kia phải bỏ vào tương lai, một tương lai gần gũi mà chúng ta xem như là hiện tại thực sự của chúng ta.

Chúng ta vừa ở trong việc hiện tại, vừa không ở trong việc hiện tại.

Ở trong việc hiện tại vì ta phải nhằm vào những nguyện vọng sâu xa của nòi giống; không ở trong việc hiện tại vì những việc ta cần làm hiện nay đều chưa có.

Chúng ta cũng phải chấp nhận những sự việc, những trạng thái như không thể nào tránh khỏi, và hiểu thấu đáo những quy luật xã hội, phải biết tạo cho mình một trật tự mới để đối chọi với trật tự cũ, một lực lượng mới để đương đầu với lực lượng cũ và từ đó khôi phục trạng thái cân bằng. Khi chúng ta có hai lực lượng đối chọi nhau, thì cuộc chiến đấu sẽ phải kéo dài cho đến khi tạo được thế cân bằng. Và trong cuộc tranh đấu nào cũng vậy, đều phải có sự bất công, vì lẽ sẽ có một đàng thắng và một đàng thua, mà có kẻ bại trận nào được sung sướng đâu.

Chúng ta chỉ nói ở đây về vấn đề sáng tạo, chúng ta phải suy nghĩ trước kết về vấn đề sáng tạo, chúng ta trước hết phải là những đầu óc sáng tạo.

Những người nào muốn sáng tạo được ở phải đủ sức già dặn để sản sinh, để sáng tạo. Sáng tạo không phải là bắt chước một cách nô lệ, làm như vậy còn lâu mới giúp chúng ta tự giải phóng, trái lại nó càng buộc chặt chúng ta vào những kẻ mà ta bắt chước.

Chúng ta cần những sáng tạo rất độc lập của cá nhân, nảy nở từ chính trong dòng máu của chúng ta hay là do kết quả một sự phản ứng nổi lên trong mỗi chúng ta. Người ta thường nói đến vai trò giáo hoá, mở mang văn minh của nước Pháp, được đại diện bởi nhóm người cầm quyền ở đây. Người ta đã quỳ mọp để ca ngợi những “người mang lại ánh sáng văn minh”, những “nhà tạo ra phép lạ ở Á Đông”, làm như chính những con người thô kệch mà Bộ Thuộc địa chớ không phải nước Pháp trí tuệ gởi sang đây, đã nhào nặn tâm hồn của một dân tộc trong một thời gian ngắn trở thành một công trình tuyệt vời. Người ta đã nói đến phép lạ của người Pháp ở Châu Á, đã xuất bản một quyển sách nhan đề: “Phép lạ của nước Pháp ở Châu Á”.

Thế phép lạ ấy là gì?

Mà cũng là phép lạ thật, khi chỉ trong một thời gian hết sức ngắn người ta đã đưa trình độ kiến thức vốn đã suy thoái tệ hại của một dân tộc tuột xuống tận cùng của sự dốt nát, tối tăm dày đặc. Đó quả là phép lạ đã đưa một dân tộc vốn có tư tưởng dân chủ, vào cảnh nô lệ tối tăm trong một khoảng thời gian rất ngắn. Ai dám nói rằng đó không phải là phép lạ, phép lạ về mặt xã hội, bỗng dưng tạo nên một tình trạng mà các dân tộc phải mất mấy ngàn năm mới đi tới đó- vì phải chăng hai điều kiện đầu tiên của hạnh phúc là ngu muội và tê liệt?

Nói đến vai trò dạy dỗ, vai trò khai hoá của những ông chủ ở Đông Dương thì quả thật, thưa các ngài, đáng tức cười. Những người đại diện chính thức của nước Pháp ở Đông Dương chỉ biết nói về những công trình tốn kém như ngành đường sắt, về những công trình sạt nghiệp làm đường dây cáp ngầm dưới biển, về bộ máy công chức khổng lồ phải cung phụng, về quốc trái hàng năm, nghĩa là khai thác, bóc lột đến tận xương tuỷ cả Đông Dương.

Vai trò của họ trước hết là về kinh tế, nghĩa là lòng tham không đáy. Nhưng đến khi đề cập đến những vấn đề tế nhị hơn như giáo dục, đào tạo trí thức thì nước Pháp tỏ ra ngần ngại. Lẽ ra họ phải mang di sản trí thức của họ đến cho những nhà nghiên cứu, những nhà sáng tạo chúng ta.

Mà muốn tiến hoá được như những trí thức đó, con người phải được tự do chọn lựa, tự do tuyệt đối. Vì cưỡng bức sẽ dấn đến không tiêu hoá được, mà không tiêu hoá thì có thể đưa đến cái chết.

Có một điều tôi muốn nêu lên, thoáng qua thôi, là những người khao khát tìm tòi, đã theo đuổi công việc tìm tòi nghiên cứu xem họ phải làm gì, đang mò mẫm để nhận thức ra bản năng của mình và từ việc nghiên cứu sâu bản thân mình mà tìm ra tâm hồn dân tộc. Những người đó chí đến hôm nay, chưa hề được nhà cầm quyền giúp đỡ động viên một mảy may nào, ngược lại… Tôi có thể khẳng định điều này qua kinh nghiệm bản thân, và chưa có bất cứ một cơ quan quyền lực nào cải chính được việc đó.

Tôi sở dĩ phải nêu lên vấn đề này là cốt để cho các bạn thanh niêm hiểu rằng, trong bất luận hoàn cảnh nào, chúng ta cũng sẽ chỉ có thể dựa vào bản thân mình để vươn lên đạt trình độ mà con người ý thức được sức mạnh của mình, bắt đầu nhận thức ra phẩm giá của mình. Tôi muốn các bạn hiểu rằng cuộc chiến đấu của chúng ta, để có đủ kiến thức, để trở nên gắn bó với quyền tự hào và phẩm giá, bất ngờ và dồn dập mà những quyền lực ghê gớm sẽ dựng lên trên con đường của chúng ta.

Trên con đường đi đến ý thức được bản thân mình, tuổi trẻ hoạt động sẽ gặp phải những tài năng mà người ta cố tình khua chiêng gióng trống để tôn xưng, gặp những vị thần giả mạo được dựng lên trong một môi trường vinh quang giả tạo. Và quần chúng dễ tin nơi bề ngoải giả tạo đó mà xa lánh những tâm hồn thực sự cao đẹp, những tài năng đã dày công vun đắp. Con đường giải thoát con người quả là gian nan. Và nhất là ở xứ này, hơn bất cứ nơi đâu, những tâm hồn tự do, cao thượng, kiêu hãnh sẽ cònphải trải qua một đoạn đường dài gian khổ.

Ta phải giải thích việc này như thế nào?

Nguyên nhân của việc này là gì? Đó là sự dốt nát. Tình trạng dốt nát, u tối và nặng nề của quần chúng. Tình trạng dốt nát mạ vàng, rỗng tuếch của giới ưu tú hiện nay. Đông đảo quần chúng cũng như giới gọi là ưu tú tân thời đã được cái nhà trường “Dân chủ bất nhã” tạo ra, ở các nước Âu Châu. Quần chúng cũng như hạng gọi là ưu tú đõ sẽ không biết phân biệt thật với giả.

Tôi nói lên những nhận xét đáng buồn này với các bạn, không cốt để làm tê liệt tấm lòng nhiệt tình, đầy thiện ý của tuổi trẻ. Tôi chỉ muốn nó sẽ là những bức tường ngăn cách làm rạch ròi giữa những tấm lòng cương nghị, sâu sắc, cần mẫn, quyết tâm hành động đến cùng khác với những tâm hòn rỗng tuếch nhưng kêu to. Tôi muốn hạng người này hãy quay phắt lại đi trước những gian nan, chướng ngại đã được phô bày. Vì những thất vọng, những chán nản của họ sẽ được ghi lại cho đời sau trong những vần thơ theo lối ngợi ca thành tích của những người anh hùng thất chí thuở xưa. Những con người thành đạt phải là những tấm lòng cương nghị tới cùng.

Và muốn hình thành một nhân cách, trước tiên là ta phải biết sống. Mà sống là tranh đấu, là đương đầu, là cảnh giác.

Tôi hiểu: Thanh niên hiện nay, quan niệm rằng không có cuộc tranh đấu nào khác hơn là tranh đấu chính trị. Nhưng họ lại hiểu hoạt động chính trị khác hẳn với các hoạt động ồn ào bên Âu Tây. Họ chỉ thấy những lời gièm pha rùm beng và rỗng tuếch phơi bày trên các báo hàng ngày ở Đông Dương.

Hỡi ơi! Phải chi thanh niên ta có thể hiểu được những gì xảy ra dưới lớp vỏ những lời gièm pha hàng ngày rùm beng nhưng rỗng tuếch ấy, thì chắc là họ sẽ rất bất bình và không còn nôn nả dấn thân vào cái mà họ gọi là hoạt động chính trị đã làm hư hỏng, hoen ố biết bao nhiêu tâm hồn trên một đất nước mà cuộc sống đã hầy như bị tê liệt, rã rời. Tôi hiểu- không có gì vui khi ta phải nhắc đến những chuyện ấy. Tôi hiểu hiên nay thanh niên đang tập trung chú tâm vào cái mà họ gọi là làm chính trị hay làm quốc sự cho đến nỗi, người nào bị mật thám theo dõi, sẽ cảm thấy vô cùng vinh dự, và không ngần ngại để khoe khoang.

Tôi hiểu rằng đối với lứa tuổi thanh niên hiện nay đang dò dẫm tìm con đường đi, nếu họ gặp phải chướng ngại mà chính phủ dựng lên thì thay vì phải đi vòng tránh né thì họ lại đem hết sức lực ra để lay chuyển cho được tảng đá chặn đường. Và đối với họ, như vậy là tranh đấu. Không , thưa các bạn, cái mà các bạn gọi là tranh đấu ấy, thực ra là một việc phung phí sức lực để chống lại một cái bóng. Các bạn sẽ được gì qua một cuộc tranh đấu như thế, nếu không phải là sự kiệt sức, đẩy bạn đến một trạng thái thấp hèn, luôn luôn kém cỏi, thua sút và sẽ bị con người điều khiển cái bóng đen đó sai khiến.

Các bạn phải tranh đấu với cái gì đây?

Phải tranh đấu với môi trường sống của mình, với gia đình đang làm tê liệt những cố gắng của chúng ta, chống lại cái xã hội tầm thường đang đè nặng lên ta, chống lại những thành kiến hẹp hòi đang bủa vây quanh hành động của chúng ta, chống lại những tư tưởng bạc nhược, hèn hạ, thấp kém đến nhục nhã, cứ ngày càng hạ thấp vị trí của nòi giống chúng ta. Cuộc chiến đấu chính là ở đó, mà nó còn nặng nề hơn gấp ngàn lần cuộc tranh đấu chính trị kia. Và chỉ có cuộc chiến đấu đó mới đưa chúng ta đến thắng lợi thực sự.

Những nhà tư tưởng lớn cho đến ngày nay đều khuyên những người muốn theo làm môn đồ phải “bỏ nhà cha mẹ ra đi”.

Và chúng ta cũng vậy, các bạn trẻ, chúng ta phải bỏ nhà cha mẹ ra đi, phải xa lánh gia đình, thoát khỏi cái xã hội chúng ta ngày nay và lìa xa xứ sở. Phải dấn thân vào cuộc sống tranh đấu, để khởi dậy nguồn sinh lực đang còn tồn đọng trong ta. Chúng ta cần một môi trường có khả năng nâng cao tâm hồn và trí tuệ của chúng ta. Chúng ta cần một đỉnh cao, để từ đó định tâm lại, chúng ta sẽ lường được hết sức mạnh của mình và làm chủ tâm hồn mình, từ đó mới nhìn tổng quát được thế giới chung quanh sống động và chứa chan tình yêu thương, mới hoà hợp được với thế giới.

Lúc đó, chúng ta có thể từ giã đỉnh cao mà ta đã đạt tới, từ giã nơi mà ta đã lựa chọn để tự lưu đày trong một thời gian ấy, để trở về với xã hội nơi mà ta có thể thi thố hết cả sức mạnh sáng tạo của chúng ta. Nghĩa là, là người An Nam, chúng ta sẽ trở về đất nước An Nam, sau khi đã nhận thức đầy đủ chân giá trị của mình về phẩm chất cao quý nhất của con người, về những quy luật của tạo hoá, chúng ta trở về nơi mà sự tình cờ run rủi đã đặt ta vào thành nơi chôn nhau cắt rốn, do đó không còn ai hơn ta có thể hiểu được nhu cầu của nòi giống đã sinh ta ra, và nhờ đó mà sức mạnh sáng tạo phong phú trong ta sẽ không trở nên phung phí.

Theo tôi, thanh niên ta ngày nay cần nên tránh nói về Tổ Quốc và lòng Yêu nước, mà chỉ nên tập trung sức lực để đi tìm tòi cho ra bản ngã của mình. Khi mà ta đã xác định được bản thân ta, thì hai chữ Tổ Quốc và Yêu nước sẽ trở thành những danh từ rộng lớn hơn, cao thượng hơn, thanh nhã hơn đối với ta, mà chúng ta sẽ phải hổ thẹn vì trong lúc còn ngu dốt, chúng ta đã pha trọn vào hai chữ Tổ quốc và Yêu nước những ý nghĩa thấp kém, hèn mạt nữa. Đến ngày mà tuổi trẻ An Nam không còn thấy suy tôn những mảnh bằng cấp nữa, bất chấp các thành kiến xã hội, xem thường áo mão cân đai dát vàng của bọn tay sai của thực dân, khinh miệt dáng vẻ bên ngoài trịnh trọng của các vị thân giả, khinh miệt những lời ca ngợi các tài năng giả tạo, những năng lực bất lực.

Đến ngày mà thanh niên An Nam ta khinh thường mọi bề ngoài giả dối, mọi lời nói xảo trá, biết ngẩng cao đầu tiến bước trên con đường chân chính mà chính lương tâm ta đã vạch ra cho chúng ta.

Thì ngày ấy chúng ta có thể cùng nhau xem xét những ước mơ cao đẹp nhất của chúng ta. Ngày ấy chúng ta có thể giải bài toán khó về tạo lập một nền văn hoá cho dân tộc chúng ta và một lần nữa chúng ta khôi phục đạo lý của tổ tiên chúng ta:

“Hãy tôn sùng những ai đã dùng tài năng hay thiên phú của mình mà nâng cao vị trí của dân tộc ta trên thế giới, và những ai đã đóng góp vào việc cải thiện điều kiện sống cho dân tộc chúng ta”.


(1) Nguyễn An Ninh muốn nhắc đến Nguyễn Ái Quốc, người mà NAN hết sức ngưỡng mộ. Đúng như nhà báo Lưu Quý Kỳ đã viết trên báo “Thống Nhất” số 155 ngày 19-5-1965: “Nguyễn An Ninh đã tuyên bố: “Chính anh Nguyễn Ái Quóc đã làm tôi hăng hái cách mạng. Tôi hoàn toàn tán thành đường lối của Quốc Tế Đệ tam và tôi luôn luôn coi anh Nguyễn Ái Quốc là người dẫn đường cho tôi”. (BT)

 
Nguồn: chungta.com

Lý tưởng của thanh niên An Nam (phần 1)

Nguyễn An Ninh

Tối 15/10/1923, sau khi từ Paris về Nam Kỳ, Nguyễn An Ninh có bài diễn thuyết bằng tiếng Pháp tại Hội Khuyến học Nam Kỳ với chủ đề : “Lý tưởng của thanh niên Việt Nam” (Thời đó dịch là “Cao vọng của bọn thanh niên An Nam”). Bài diễn thuyết hết sức nổi tiếng, gây tiếng vang sâu rộng trong dư luận xã hội Nam Kỳ. . Trong bài này, diễn giả bộc bạch: “Tôi có lòng ước mơ bằng Trời sẽ giúp cho tôi đủ sức và dư thì giờ để mà viết sách giúp cho đồng bào hiểu rõ tri thức Đông…Tây…”

Thưa các ông,

Năm ngoái, cũng tại đây, trong một buổi thuyết trình ngắn, tôi có đề cập đến vấn đề “cần xây dựng cho dân An Nam ta một nền văn hoá”.

Buổi thuyết trình đó không mấy người nghe hiểu đúng, hay nói thẳng ra, không ai hiểu đúng cả.

Nền văn hoá Trung Hoa trên nước ta đang suy và thế hệ chúng ta đang chìm đắm trong vòng ngu dốt, nên việc không hiểu đó, không làm cho tôi ngạc nhiên.

Tôi vừa nói: “Nền văn hoá Trung Hoa trên nước ta đang suy”, ra vẻ như có lúc nào đó, trên nước ta, nền văn hoá Trung Hoa đã trải qua một thời kỳ rực rỡ. Nhưng xét cho thật, tôi phải tự hỏi: Liệu có lúc nào, nền văn hoá Trung Hoa đã chịu được cái phong thổ nước ta chưa?

Hai chữ văn hoá tự nó đã bao hàm ý nghĩa về cái chỗ rộng mênh mông, một chỗ cao hơn hết mà ta có thể đạt được sau khi hấp thu những chân trời cao rộng.

Tên tuổi của những người, những tác phẩm đã đóng góp vào việc nâng cao trình độ học thức của người Trung Hoa, thật là nhiều. Nhưng đối với các nhà Nho học của ta, khi nghe các ông ấy bàn luận, thì dường như các ông chỉ biết có mỗi một mình Khổng Tử. Người có học đương nhiên đều tôn kính Khổng Tử như một bậc thánh nhân đáng cho người da vàng tưởng nhớ và biết ơn. Nhưng những bậc cao siêu thì rất khó mà nhận Khổng Tử làm thầy mình, làm người hướng dẫn con đường trí tuệ và tinh thần của mình, là người lo về luân lý trong dân, là người làm thầy dạy dân.

Trang Tử đã nhiều lần lên tiếng chống lại các luân lý hẹp hòi, những ý nghĩa ràng buộc của Khổng Tử. Những tác phẩm của ông quả là một chiến dịch chống đối nhà hiền triết lừng danh của Trung Quốc. Lời châm biếm khôn khéo của ông đã lắm phen làm cho các môn đồ của Khổng Tử cũng phải cười theo. Như vậy thì còn gì cái oai nghiêm và uy thế của bậc đại hiền triết.

Chúng ta phải công nhận công lao to lớn của Khổng Tử trong việc đem lại hoà thuận, trật tự, bình yên trong dân, dân đến cho họ bao nhiêu nguồn hạnh phúc nho nhỏ.

Nhưng từ đó, phải suy tôn đạo Khổng lên tới giá trị cao nhất về tinh thần và trí tuệ của loài người, thì lại là một bước khác, chúng tôi thấy là khó lắm.

Hãy để nguyên đạo Khổng trong cái phận sự dạy dân của mình, và chúng ta sẽ làm ngơ đi, để mặc cho đạo Khổng chuyên lo trong phận sự mình.

Lại nữa trong thời buổi tranh đấu này, nếu ta bằng lòng với những thú vui đồng áng và hạnh phúc gia đình cỏn con, thì con người hoá ra yếu; tức là ta dọn sẵn một mảnh đất cho bạo lực và sự quyết đoán sẽ nhân đó mà làm chủ nhà ta dễ như chơi.

Ý tưởng của Khổng Tử, nếu hiểu nó cho thấu đáo thì giá trị con người sẽ được nâng lên, quan niệm về cuộc sống trở nên rộng rãi và độ lượng.

Điểm khởi đầu trong đạo Khổng là nằm trong con người, trong việc tự tu dưỡng bản thân của mỗi người. Nó đòi hỏi trước hết phải: “tìm cho ra nguồn gốc muôn việc làm của con người”. Như vậy là sự công bằng của Khổng Tử là ở nơi “hiểu” mà ra, phải “hiểu” chớ chẳng phải là dò theo từng câu, từng chữ trong Tứ Thư, Ngũ Kinh mà cư xử người, như các quan toà y theo luật mà xử vậy. Hiểu trước rồi sẽ xử người. Xét cho tận rồi sẽ xử người. Thì tự nhiên thấy rõ rằng chỉ còn cái khoan dung, cái độ lượng, cái hào hiệp mà thôi. Như vậy thì con người buộc người ít hơn buộc mình, buộc mình nhiều hơn buộc người khác và chỉ còn biết buộc mình mà thôi.

Chữ “Trung” là sức mạnh giúp ta gìn giữ lời hứa, là một hệ quả khác của nguyên tắc lớn làm nền tảng cho đạo Khổng.

Hai chữ “Trung”, “Thứ” là cái gốc của kẻ muốn làm người theo như Khổng Tử dạy: Trung để buộc mình, Thứ để đối với người.

Nhưng rồi theo dòng thời gian, đạo Khổng bên Trung Hoa đã trở thành một món hàng hoá xuất cảng. Và chính cái tác hại của món hàng hoá xuất cảng của nền văn hoá giả tạo đó trong giới ưu tú xứ ta, làm cho số ưu tú ấy tưởng mình đầy đủ mà phô trương cái “đầy đủ” ấy ra một cách thô kệch thường thấy với các nhà Nho có tuổi của chúng ta. Chính là để chống lại sự hạ thấp trình độ trí thức xứ ta gây ra bởi “đạo Khổng dưới dạng hàng xuất cảng” đó, mà tôi phải nói phớt qua hôm nay với các bạn. Tôi nói phớt qua là vì muốn xác định vị trí xứng đáng của Khổng Tử trong số những bậc thánh nhân làm thầy của nhân loại, thì tôi phải viết rõ ra trong năm ba quyển sách mới đầy đủ được.

Tôi có lòng mơ ước rằng: Trời sẽ giúp cho tôi có đủ sức và dư thì giờ để mà viết ra một số những tác phẩm nhằm giúp cho đồng bào hiểu rõ tinh thần Viễn Đông ta và tinh thần Âu Tây.

Chiều nay, tôi chỉ muốn giới thiệu qua với các bạn về vị trí xứng đáng của Khổng Tử trong nhận thức của những ai muốn vươn lên đến một trình độ trí thức cao.Vì rằng chính lúc còn sinh thời, Khổng Tử cũng chưa bao giờ dám tự nhận rằng học thuyết của mình là ước vọng cao quý nhất của tri thức loài người. Chính ông đã tự mình tìm đến để nghiêng mình chào Lão Tử, gọi Lão Tử bằng thầy và công nhận Lão Tử cao hơn mình, sánh Lão Tử như con Rồng, Khổng Tử đã nói: “Tôi biết rằng chim bay, cá lội nhưng cái lực, cái tinh thần của con Rồng tôi không đo được”. Trong khi đó thì Lão Tử đã kề vai nói nhỏ với Khổng Tử rằng: “Học thuyết của ông ví như một con ruồi bay vo vo trong cái vò”.

Thuật lại câu chuyện này với các bạn, tôi chỉ muốn hỏi các bạn nghĩ gì khi có người ở nước ta lại cố tình đưa đạo Khổng lên hàng cao nhất của tri thức nhân loại, như lý tưởng cao quý nhất của con người, trong khi chính Khổng Tử lại nhìn nhận có người khác hơn mình. Phải chăng, điều đó chứng minh sự hèn kém của nòi giống An Nam, cho thấy nỗi bắt lực của những tâm hồn đẹp đẽ nhất trong chúng ta. Tất nhiên thử hỏi có mấy người có thể đọc được sách của Lão Tử. Nhưng người táo bạo nhất cũng ráng sức, miệt mài, họ còn dựng lên một cái đài cao, những con người biếng nhác, bất tài đã không ngại ngùng mà lên trên chót đài ấy rao cùng thiên hạ rằng đạo Lão là một cái “đạo thầy pháp” làm nản lòng những ai còn ham muốn tìm hiểu. Nhưng như vậy cũng còn chưa có thể gọi là phá hoại.

Đạo Khổng dưới dạng một món hàng xuất cảng mang sang nước An Nam ta, đã gây tai hại như thế này: Các nhà Nho học nổi tiếng của ta được nhồi nặn theo đạo Khổng, cứ tưởng rằng ngoài cái đạo Khổng không có ý tưởng nào là rộng, là thật. cứ biết một mình đạo Khổng thôi, các nhà Nho học xứ ra hễ đọc sách nào thì không lo hiểu cho tận sách ấy, lại lấy ý Khổng Tử mà giải sách ấy, thành ra ngoài cái ý của Khổng Tử thì không hiểu chi cả; hễ động đến đạo nào, dẫu cho đạo ấy khác đạo Khổng như ngày khác đêm, cũng hoá ra đạo Khổng; làm cho mấy ý tưởng cao thượng để giúp người trí thức dễ thở hoá ra hẹp hòi.

Tôi lấy một ví dụ: Đây nói về ông Trang Tử, người học trò xuất sắc của Lão Tử. Ai ai cũng nghe biết mẩu huyền thoại rất phổ biến về giấc mộng của thầy Trang Tử thấy mình hoá bướm, về câu chuyện đã xảy ra cho vợ thầy Trang. Như thế này: Trong buổi lễ tang vợ thì Trang Tử vẫn ngồi gảy đàn, hẳn là không phải ông muốn quên lãng một sự thật đau đớn mình mới biết, hay để cười cái tội lỗi ngàn đời của người phụ nữ.

Vì cười như vật là đau đớn lắm. Mà nếu như Trang Tử đã phải xúc cảm đến mức độ đó thì những tư tưởng trong sáng của Lão Tử nhất định đã chẳng giúp được gì nhiều cho học trò ông.

Lời giải thích đúng nhất, có lẽ nằm trong tác phẩm của chính Trang Tử.

Trả lời những câu trách móc của anh bạn Huệ Tử rằng: “Anh đã sống với chị ấy, mà đến khi người ta chết, anh không hề thương khóc thế là đã nhềiu rồi, đằng này anh còn dạo đàn, tôi tưởng như vậy là thái quá chăng?”. Trang Tử trả lời: “Không đâu, lúc vợ tôi tắt thở thì tôi cũng có buồn. Nhưng tôi lại nhớ đến lúc chưa có tạo hoá, lúc hãy còn chưa có “Sinh”, chưa có “Hình”, rồi tôi nghĩ đến sự biến đổi đột ngột từ đâu ra. Nó biến đổi cái không “khí trời” thành ra cái có “khí trời”, rồi sinh ra cái có “Hình”, sinh ra sự “Sinh”, rồi lại dắt trở về với sự “Chết”, làm cho ta thấy bốn mùa như nối đuôi nhau vậy, xoay vòng không cùng vậy.

Hôm nay, vợ tôi như người trở về nơi mình sinh ra, êm đềm trở về với cội nguồn vũ trụ, mà tôi lại khóc than thì chẳng hoá ra là tôi chẳng hiểu tí gì về quy luật của Trời đất hay sao?”.

Người có nhận thức về triết học Ấn Độ, về đạo Lão, thì cách giải thích này là đúng nhất, chớ giải thích khác hơn thì hoá ra Trang Tử như người thường, như con người theo nghĩa của đạo Khổng vậy. Mà Trang Tử cũng thú nhận rằng ông có một chút buồn lúc vợ chết, ấy là Trang Tử nhận rằng mình hành chưa trọn cái đạo của Lão Tử.

Tôi có hơi dông dài về đạo Khổng, chẳng là để dẫn chứng qua một trong hàng nghìn ví dụ, rằng hiểu biết của ta về các vấn đề Trung Hoa hãy còn rất xa yêu cầu hiểu biết thực sự về nền văn hoá TrungHoa. Nhận xét này nói lên cho các bạn hiểu vì sao trong các nhà Nho học của ta ít người hiểu tôi. Hiểu thấu đáo ăn hoá Trung Hoa, tôi tưởng cũng đủ cho ta hiểu nổi các luồng tư tưởng khác trong nhân loại vậy.

Còn trong các bạn đã được nước Pháp đào tạo bây giờ cũng ít người hiểu tôi. Là vì ngày nay tôi chưa thấy người An Nam nào tiếp thu đầy đủ ý nghĩa của văn hoá Pháp. Và như tôi đa nói trong buổi nói chuyện lần trước “Học Tây trong nước ta bây giờ chỉ học để làm nô lệ cho nhà nước. Tại Đông Dương này tuổi trẻ An Nam khó mà tìm cho ra cái cao thượng của Âu Tây lắm”. Dẫu cho chúng ta có được thừa hưởng một truyền thống gia đình, hay nhờ vào những hoàn cảnh thuận lợi khác đi nữa, không mấy người trong chúng ta đủ sức vươn lên đến trình độ một học giả ở Châu Âu. Mà giờ đây, vào thời buổi hiện nay, mỗi người châu Á chúng ta lại phải được trang bị hai phía, vừa phải tiếp thu văn hoá Âu Tây và cả văn hoá Á Đông nữa.

Lần diễn thuyết trước tôi có nói về dùng thuốc: “Trong ta phải có hai thứ thuốc chống nhau để rồi hoà tan sinh ra một thứ thuốc mới. Trong ta phải có thắng trận hai lần” và không ai theo kịp tôi muốn nói gì. Có thể lời lẽ tôi nêu ra hôm ấy không sát với hiện tại, có thể là lời dự báo trước vậy.

Chiều hôm đó, người nghe có vỗ tay khen tôi lúc tôi bài bác cá tính ưa làm quan của ta. Có vỗ tay hoan nghênh tôi nhưng thực ra là cũng để tự khen chính mình. Họ đã vỗ tay hoan nghênh và lấy làm kiêu hãnh vì chính họ đã chống ý nghĩ muốn học để ra làm quan. Khi tôi lên tiếng chống những cái hại đó đang đầu độc những mầm sống đẹp đẽ nhất của nòi giống ta, là tôi đã nói cho những người muốn học cao hiểu rộng muốn có một địa vị xã hội cao, những người tin rằng mình có một sứ mạng xã hội xứng đáng với tài đức của mình.

Tôi sẽ nói với các bạn về sứ mạng xã hội đó, bắt buộc đối với những người thông minh nhất, mạnh mẽ nhất trong chúng ta.

Tôi lại kéo dài thời gian thêm chút nữa để nói về sự cần thiết phải xây dựng cho nòi giống ra một nền văn hoá riêng.

Khi tôi nói đến nền văn hoá cho nòi giống ta, chắc các bạn ai cũng liên nghĩ đến việc tại sao lại không dùng tiếng An Nam để nói. Chắc hẳn, tôi không dám tự liệt mình vào hàng những nhà viết văn bằng quốc ngữ lớn nhất hiện nay, nhưng tôi có thể khẳng định là tôi đủ sức trình bày mọi ý kiến của tôi bằng tiếng An Nam. Thú thật với các bạn là cái “vừa đủ” ấy làm cho tôi thẹn với nòi giống ta lắm, song tôi biết thẹn và biết cố gắng để quay về với tiếng mẹ đẻ thì cũng đã an ủi tôi và đủ cho các bạn thứ cho tôi.

Tuy nhiên, dùng tiếng Pháp có thể là một điều bắt buộc đối với thanh niên ta, những nhà trí thức tương lai mà tư tưởng sẽ dẫn đường cho nòi giống ta, nay phải qua con đường văn hoá Châu Âu để hiểu sâu hơn văn hoá Viễn Đông. Lại nữa, tôi nói chuyện với các bạn bằng tiếng Pháp là cũng cốt để phơi bày mọi ý tưởng của mình,d dể cho có nhiều người khác nghe được, để đính chính mọi nghi ngờ ngu xuẩn cứ lảng vảng quanh tôi. [(1) N.A.N ám chỉ bọn mật thám]

Các bạn cần hiểu tại sao tôi nói “cần thiết” phải có một nền văn hoá riêng cho nòi giống ta. Nhiều dân tộc nhờ có nền văn minh của mình mà nổi danh trên thế giới, mà gây được ảnh hưởng của mình trên thế giới. Dân tộc nào bị thống trị bởi nền văn hoá ngoại bang thì không thể có độc lập thật sự. Văn hoá là tâm hồn của một dân tộc. Giống như một con người có tâm hồn cao thượng thì mới biết những thú vui thanh cao trong cuộc sống, một dân tộc có nền văn hoá cao thượng thì mới hưởng được những đặc ân mà một dân tộc thấp kém hơn không thể biết được. Như vậy một dân tộc muốn sống, muốn độc lập, muốn rạng danh trong nhân loại, cần phải có một nền văn hoá riêng của mình.

Tôi lấy ví dụ: một nền văn hoá mà chúng ta chịu ảnh hưởng mãi cho đến ngày nay, nền văn hoá Trung Hoa. Nhiều lần bị bạo lực lấn áp bị các dân tộc “man di” láng giềng xâm chiếm, nhưng nhờ có nền văn hoá mà nước Trung Hoa vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Hơn thế nữa, cứ mỗi lần biến cố xã hội xảy ra, lẽ ra phải nô dịch hay huỷ hoại nước Trung Hoa, thì lại mở rộng biên cương và càng làm cho nước Trung Hoa thêm hùng mạnh, ảnh hưởng càng rộng lớn.

Kẻ xâm lược, chinh phục được nước Trung Hoa rồi nhưng tự mình lại bị nền văn hoá Trung Hoa chinh phục. Dần dần, họ từ bỏ những phong tục của đất nước họ, văn chương nước họ, cả ngôn ngữ dân tộc họ để đồng hoá với nền văn hoá Trung Quốc. Và cứ như thế qua mấy lần bị đô hộ, mỗi lần giành tự do, thì đất nước Trung Hoa lại được mở rộng thêm một bước sát nhập vào lãnh thổ của mình.

Chứng minh sự cần thiết phải xây dựng một nền văn hoá riêng cho nòi giống ta không đến nỗi khó. Cái lúng túng của chúng ta, là phải tìm ra một di sản tinh thần thật vững chắc làm nền tảng cho việc thực hiện mong ước của chúng ta. Nếu chúng ta gom góp tất cả những gì về văn chương, về nghệ thuật đã được toạ ra trên đất nước ta, thì nguồn tài sản tri thức của tổ tiên ta để lại nhất định sẽ hết sức mỏng manh so với nhiều dân tộc khác. Đó chính là lý do đầu tiên mà cũng là lớn nhất dễ làm cho ta chán nản, làm giảm niềm phấn chấn của chúng ta. Mớ vốn văn chương để lại cho chúng ta quá mỏng manh, mà thêm vào đó, nó còn sặc mùi sa đoạ, bệnh hoạn, mệt mỏi, mang vị đắng của những giấy phút hấp hối. Và nhất định không thể từ cái di sản đó mà chúng ta có thể tiếp thêm sức mạnh, thêm lực sống cho nòi giống ta trong cuộc chiến đấu giành cho mình một chỗ đứng trên thế giới.

Cái gọi là giới tinh hoa Nho học đã được đào tạo theo sách vở Tàu đã chẳng cố bám vào đạo Khổng như những con người chết đuối cố bám vào khúc gỗ mục đó sao?

Ngay như, chỉ cần đem so sánh với nước Ấn Độ thì Việt Nam ta chỉ là một chú tí hon bên cạnh ông khổng lồ. Vì rằng Ấn Độ đã có một quá khứ lẫy lừng và bây giờ đây, nước Ấn Độ, và nước Nhật Bản đang cung cấp cho loài người những nhà tư tưởng, những nghệ dĩ, mà thiên tư và tài nghệ đang rực sáng bên cạnh những thiên tư và những tài nghệ của Châu Âu.
Nước Nam ta xí như một trẻ nhỏ còn chưa có được ý nghĩ hay sức lực để mò mẫm đi lên một tiền đồ tốt đẹp hơn, đi trên đường giải phóng thật sự.

Và làm sao người ta có thể nói đến tự trị về chính trị, đến tự do, người ta đang đọc những bài diễn văn rỗng tuếch , đưa ra những yêu sách điên rồ, chỉ để phung phí thêm nữa sức mạnh của nòi giống.

Ta đòi tự do nào? Tự do để làm gì?

Đứa trẻ còn chập chững bước đi chưa vững, có phải cần đến cả cái trái đất này để tập đi hay không? Tự do không phải là một vật gì mà ta có thể chuyền tay, có thể cho hay bán. Ai cũng có thể có tự do được. Người nào đã sinh ra tự do, thì dù có bị bắt làm nô lệ họ cũng sống tự do. Ngược lại, một người sinh ra đã nô lệ, thì dù ngồi trên ngai vàng họ cũng là tên nô lệ. Cho đến ngày giờ này, trong xứ ta may mắn có một vài người sáng suốt, đã chú ý đến việc chuẩn bị một cơ sở vững chắc cho tương lai của đất nước. SỐ còn lại, tất cả những người còn lại, họ nói chính trị, xem như chỉ có chính trị, duy nhất bằng con đường chính trị mới đạt được một lời hứa nào đó từ lâu mong đợi. HỌ xem như vấn đề sống còn của nòi giống là vấn đề chính trị chứ không phải là vấn đề xã hội. Nếu trong nước dốt nát đến mức ấy mà những đầu óc sáng suốt lại nín thinh thì tội ấy nặng bằng giết cả nòi giống mình. Vấn đề sống còn của nòi giống mình là vấn đề xã hội, nó ở trong tinh thần của dân tộc ta từ Nam chí Bắc. Ta còn đang phải lo cho có một lý tưởng chung cho thời bây giờ để tạo nên hạt giống của cái cây “ngày mai” của dân ta.

Tagore nói về Ấn Độ có nói câu này đáng cho ai lo cho ngày mai của dân ta để tâm suy nghĩ. Nhắc đến một thời xôn xao bên Ấn Độ, ông nói: “Trí tôi lúc ấy không chịu để cho mấy cái rung động, xôn xao của các cuộc vận động chính trị thời đó mê hoặc, vì mấy cái xôn xao ấy không có nghĩa lý gì cả; trong đấy không có lực lượng nào thực sự có tinh thần dân tộc, trong đấy hoàn toàn không hiểu biết gì về đất nước và từ đáy lòng thì dửng dưng với việc phụng sự Tổ Quốc”. Và bên cạnh cái vinh quang của một nhà thơ lớn, ông Tagore còn mang lại gì cho đất nước Ấn Độ? Ông đã hết lòng hết sức vì sự nghiệp giáo dục quốc dân, đã sáng tác ra bao nhiêu tác phẩm văn chương bằng tiếng Bengali, các tác phẩm này được dịch ra nhiều thứ tiếng và tung ra khắp châu Âu. Ta hãy nghe ông Ananda Coomarasvvany, một nhà thông thái của Ấn Độ giới thiệu về nền giáo dục quốc dân đó.

(Còn nữa)

Nguồn: chungta.com

Liam C. KelleyHoa Quốc Văn dịch – LeMinhKhaiViet Blog (2013)
Dẫn nhập

Đầu tuần này, nhà sử học lừng danh Benedict Anderson đã trình bày một bài phát biểu ngay tại đây, trong cùng căn phòng này, trong đó ông nói về chủ nghĩa dân tộc và ý thức nhân loại. Ông đưa ra luận điểm cho rằng chỉ có một ít lần trong lịch sử nhân loại, ý thức của con người đã thay đổi đột ngột đến nỗi họ trở nên không thể hiểu cách nghĩ của những người sống trước họ. Một lần như thế là khi con người chuyển sang theo một tôn giáo mang tầm thế giới (world religion). Chẳng hạn, một khi người ta chuyển sang theo đạo Cơ đốc, họ không còn nghĩ như các tổ tiên tiền Cơ đốc nữa, họ thậm chí cũng không thể thực sự hiểu cách nghĩ của tổ tiên mình. Ý thức của họ đã thay đổi.

Benedict Anderson (sau đó) tiếp tục nói về cách thay đổi khác của ý thức nhân loại, và đó là thông qua sự chấp nhận tất cả những ý tưởng đi kèm sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc. Một khi trở thành cảm thức phổ biến để con người tự xem mình là bộ phận của một quốc gia, nó khiến họ không thể nào nhìn nhận thế giới bằng bất kì cách thức nào khác, và họ trở nên không thể hiểu được tổ tiên mình đã nghĩ như thế nào.

Sự biến đổi trong ý thức đến cùng sự chấp nhận một não trạng dân tộc chủ nghĩa là một hiện tượng đã xảy ra đầu tiên ở phương Tây, và sau đó được tái tạo ở các phần khác của thế giới. Ở Việt Nam, sự biến chuyển này bắt đầu ở đầu thế kỉ XX, và trong vòng một thế hệ, nó được hoàn tất, đến nỗi cho đến thập niên 1920s, nhiều người Việt Nam không còn nghĩ như tổ tiên họ đã nghĩ trong nhiều thế kỉ trước, thậm chí cũng không thể hiểu được gì thêm về cách nghĩ của tổ tiên mình.

Điều tôi muốn nói hôm nay là phải xem xét thời điểm ở đầu thế kỉ XX này, khi các ý tưởng dân tộc chủ nghĩa lần đầu tiên được thể hiện bởi các trí thức người Việt, và khi ý thức thay đổi. Tôi chắc rằng nếu người ta không hiểu cái gì đã xảy ở đầu thế kỉ XX, thì người ta không thể hiểu bất kì giai đoạn nào trong lịch sử Việt Nam bởi đầu thế kỉ XX là một thời đoạn mà mọi thứ đều thay đổi. Thực vậy, nó là một trong những thời đoạn hiếm hoi khi ý thức thay đổi, và rốt cuộc nó thay đổi triệt để đến nỗi những người sống sau thời điểm ấy đã mất mát phần lớn khả năng suy nghĩ như những người sống trước đó.

Sự biến đổi này đặc biệt rõ ràng trong các trước tác lịch sử ở giai đoạn này. Ở đầu thế kỉ XX, các trí thức canh tân người Việt đã khớp nối với các ý tưởng từ thế giới bên ngoài và rồi đã tạo ra vô số tác phẩm viết về lịch sử cấu thành nên một sự đổi thay triệt để trong cách viết sử. Trước thế kỉ XX, các sử gia Việt Nam không viết về “Việt Nam” hay “người Việt Nam”, mà thay vào đó họ viết về các quân vương. Tuy nhiên, với sự chấp nhận các ý tưởng dân tộc chủ nghĩa từ phương Tây, kèm theo các ý tưởng về chủng tộc và tiến hoá, tất cả điều này đã thay đổi.

Chúng ta có thể thấy sự thay đổi ngay lập tức bảng từ vựng trong các trước thuật ở thế kỉ XX, khi chúng tràn ngập những khái niệm mới như: dân tộc, tổ quốc, quốc dân, văn minh, khai hoá, tiến hoá, ái quốc tâm (lòng yêu nước), cạnh tranh và chủng tộc. Tất cả đều là những khái niệm mới được giới thiệu từ phương Tây, và chúng đều đóng một vai trò trong sự biến đổi ý thức của người Việt.

Sự biến đổi tri thức xảy ra ở Việt Nam đầu thế kỉ XX khi người ta bắt đầu nghĩ bằng các khái niệm dân tộc chủ nghĩa là một sự biến chuyển dĩ nhiên đã xảy ra ở phương Tây trước đó không lâu. Vì vậy, sự thay đổi ý thức này không phải là cái gì đó độc nhất đối với Việt Nam. Nó xảy ra hầu như ở khắp mọi nơi.

Điều có phần độc nhất đối với Việt Nam là một thực tế rằng cách nghĩ này vẫn còn được duy trì ở diện rộng, trong khi nó đã thay đổi ở các phần khác của thế giới. Người ta có thể nói rằng những người như Benedict Anderson đã giúp cho các nền học thuật ở nhiều nước trên thế giới ngày hôm nay thay đổi ý thức của chúng một lần nữa giữa nhiều thành viên trong cộng đồng học giả quốc tế, thật là phổ biến khi nghĩ rằng các quốc gia là những cộng đồng tưởng tượng và rằng chúng là những cộng đồng được tưởng tượng rất gần đây thôi.

Vì vậy, sau khi thảo luận về sự thay đổi tri thức đã xảy ra ở đầu thế kỉ XX, tôi sẽ kết thúc phần trình bày này bằng việc đưa ra một vài suy ngẫm về tình trạng của nghề sử ở Việt Nam hiện nay.

Quốc gia

Để hiểu các ý tưởng về việc những nhân tố nhất định của lịch sử Việt Nam đã dần được nhìn nhận khác nhau như thế nào ở đầu thế kỉ XX bởi các nhà sử học Việt Nam, lí tưởng là chúng ta cần trước hết có một hiểu biết về diện mạo của nền sử học truyền thống. Tuy nhiên, trong khuôn khổ phần trình bày này, không có đủ thời gian để làm điều đó. Chỉ cần biết rằng các công trình sử học trước thế kỉ XX được viết như những cuốn sách hướng đạo luân lí cho các quân vương và các quan chức phụng sự họ.

Tuy nhiên, ở đầu thế kỉ XX, các học giả Việt Nam bắt đầu nghĩ về quá khứ bằng những cách mới, sau khi tìm hiểu cách nghĩ và cách viết sử của phương Tây. Ở chính thời điểm đó, trước tác lịch sử ở nhiều nước phương Tây đang tập trung vào vấn đề quốc gia hơn là vào quân vương. Hơn nữa, sử gia ở phương Tây lúc bấy giờ cũng chịu ảnh hưởng của các ý tưởng đến từ thuyết tiến hoá tự nhiên và xã hội, và cố gắng trình bày về các quốc gia của họ như là sự kế tục về mặt lịch sử trong quá trình tiến hoá của các xã hội.

Các trí thức Việt Nam canh tân ở bước chuyển đầu thế kỉ XX bắt đầu áp dụng một số ý tưởng này để tái định nghĩa và viết lại lịch sử vùng đất của họ.

Những trước tác lần đầu tiên giới thiệu những ý tưởng mới và cách nghĩ mới này, chủ yếu được viết bằng Hán cổ, khi mà chỉ đến đầu thập niên 1920s tiếng Việt hiện đại viết bằng chữ Latin mới bắt đầu thay thế đáng kể việc dùng chữ Hán cổ trong các trứ thuật lịch sử.

Sự thay đổi về ngôn ngữ này, từ chữ Hán cổ sang tiếng Việt hiện đại, chắc chắn là một trong những lí do giải thích vì sao não trạng dân tộc chủ nghĩa vẫn có ảnh hưởng lớn trong sử học Việt Nam, khi mà phần lớn các nhà sử học ở Việt Nam [ngày nay] đơn giản là không thể đọc được những trước tác ở đầu thế kỉ XX [viết bằng chữ Hán], những trước tác cho thấy sự xuất hiện tư tưởng dân tộc chủ nghĩa này.

Trong bất kì trường hợp nào, trong tất cả các ý tưởng mới được giới thiệu trong các công trình trình này, ý tưởng về dân tộc chắc chắc là quan trọng và có nhiều ảnh hưởng nhất. Ở đầu thế kỉ XX, các tác giả Việt Nam đã làm rõ rằng khái niệm quốc gia không phải là khái niệm quen thuộc với nhiều người ở vùng đất của họ, và rằng để cho người ta hiểu được khái niệm này cần phải nỗ lực, và phải làm thông qua giáo dục. Sau đây dẫn lời của Hoàng Đạo Thành, tác giả của một văn bản lịch sử mới viết năm 1906:

Khi người ta lên 7 tuổi và vào trường tiểu học, họ cần phải học văn học dân tộc và lịch sử của nó. Điều đó cũng đúng với phụ nhân, vì đây là cách chúng ta khiến cho từ “quốc gia” khắc sâu vào trí não mỗi người. Hẳn phải củng cố điều đó để nó không thể lay chuyển; khiến nó bám chặt không thể rơi rụng. Do đó, họ sẽ xem lãnh thổ quốc gia như tài sản của chính họ, và sẽ hành xử với nhau như đồng bào[1].

Về nguyên nhân vì sao khái niệm này không được biết đến, các trí thức ở đầu thế kỉ XX đổ lỗi cho hệ thống khoa cử, khi mà chương trình học phục vụ việc thi cử không bao gồm lịch sử vùng đất của họ, mà chỉ có những điều về “phương Bắc” hay “Bắc quốc”, tức là vùng đất mà ngày nay chúng ta gọi là “Trung Quốc”, được các học giả Việt Nam đề cập đến rộng rãi lúc bấy giờ.

Điều này tạo nên một thế giới quan thiên lệch hoặc bất cân xứng. Khi viên quan triều Nguyễn là Hoàng Cao Khải miêu tả điều mà những người đã học để thi trong suốt nhiều thế kỉ được biết, ông khẳng định:

Họ biết về Hán (Cao Tổ) và Đường (Thái Tông), mà không biết rằng Đinh Tiên Hoàng và Lê Thái Tổ là những quốc chủ. Họ biết về Khổng Minh (tức Gia Cát Lượng) và Địch Nhân Kiệt, mà không biết về Tô Hiến Thành và Trần Quốc Tuấn là những đại thần. Họ biết về chiều cao núi Thái Sơn, độ sâu sông Hoàng Hà, mà không biết mạch núi tổ của Tản Viên Sơn, hay nơi khởi nguồn của sông Mekong. Điều này, do đó, khiến người dân của nước ta làm theo phong tục của những dân tộc khác. Từ mũ mão, hôn lễ, tang lễ hay tế lễ, chẳng có gì lại không tiến hành từ sự bắt chước Trung Quốc[2].

Nói khác đi, các tác giả ở đầu thế kỉ XX cho rằng chỉ với việc học tập phương Bắc, người dân trong quá khứ đã không thể tìm hiểu về chính mảnh đất của họ, và hệ quả là, họ không có ý thức rõ ràng rằng họ cấu thành một quốc gia riêng. Vì vậy, để khiến ý tưởng về quốc gia “khắc sâu” vào trí não của người dân, họ cần phải học lịch sử của đất nước mình, điều họ không thể làm trước đó.

Chủng tộc

Vậy là ở đầu thế kỉ XX, có một nỗ lực thận trọng nhằm phân biệt trong đầu óc người dân 2 nơi mà ngày nay chúng ta gọi là Việt Nam và Trung Quốc để khiến người dân xem vùng đất của họ là một đất nước [riêng]. Đồng thời, có những nỗ lực để khiến người dân tự xem mình là bộ phận của một chủng tộc, một khái niệm mới khác đến từ phương Tây.

Khi các trí thức Việt Nam ở đầu thế kỉ XX bắt đầu viết về chủng tộc, ý tưởng về một chủng tộc Da vàng rộng hơn đã lưu hành rộng rãi, và các tác giả Việt Nam kết nối dân tộc mình với sự khu loại này. Một trong những học giả sớm nhất là Ngô Giáp Đậu, người viết về “tộc loài” trong một văn bản lịch sử viết năm 1911 có tên Trung học Việt sử toát yếu. Ở đó ông cho rằng ở thời viễn cổ, người dân ở khu vực này đều là bộ phận của tộc Da vàng (Hoàng tộc), nhưng họ được chia thành các nhóm khác nhau như: Man, Liêu, Thái và Chăm. Đây đều là những khái niệm mà giới tinh hoa người Việt cầm quyền ở thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX dùng để chỉ những tộc người mà ngày nay chúng ta gọi là “dân tộc ít người” ở địa bàn của họ. Vào lúc Ngô Giáp Đậu viết công trình sử học của mình, những tộc người này chủ yếu sống ở các vùng núi, và ông cho rằng về mặt lịch sử họ đã bị dồn vào những vùng đất xa xôi khi những người dân di cư chuyển đến khu vực này từ phương Bắc.

Ở đây, Ngô Giáp Đậu đã cung cấp một bản danh sách dài những sự kiện lịch sử đề cập đến việc những người mà ngày nay chúng ta gọi là “người Hoa” đã đến định cư ở khu vực thuộc Việt Nam hiện nay. Từ những phạm nhân do triều Tần gửi đến đồn trú ở khu vực, các học giả tị nạn cuối thời Hán, những “quan lại, binh lính và người dân đều đến từ phương Bắc” từ thời Tấn đến Đường, đến những người trung thành với nhà Minh đến khu vực này khi triều đại này rơi vào tay nhà Thanh. Ngô Giáp Đậu chỉ ra gần 2 thiên niên kỉ nam tiến của những người mà ông gọi là “Hoa nhân”, một khái niệm ngày nay thường được dịch là “người Hoa”. Như Ngô Giáp Đậu khẳng định, “cư dân người Hoa sống ở Nam thổ bành trướng từng ngày và dần hoàn thiện khả năng” – đến nỗi những người vốn định cư ở đây – người Man, Liêu, Thái, và Chăm – bị buộc phải vào vùng đồi núi.

Từ mô tả này, có vẻ như Ngô Giáp Đậu cho rằng người Việt là “người Hoa” hay như chúng ta gọi là “người Trung Hoa”. Tuy nhiên, ở cuối phần này của cuốn sách, ông khẳng định rằng “Trong [các kì] khảo hạch những người có khả năng chứng minh sự vĩ đại của mình trong vương quốc bằng công cụ là các tác phẩm văn chương và những thành tích quân sự, [9b] họ về cơ bản là hậu duệ của người Hoa” (9a-b), do đó gợi ý rằng giới tinh hoa khác về dòng máu với dân thường.

Các tác giả khác còn nói rõ ràng hơn. Trong một bài báo có tên Việt sử khảo xuất hiện cả bằng tiếng Hán cổ và tiếng Việt hiện đại năm 1918 trên tờ Nam Phong, một học giả có tên là Dương Bá Trác, một trong những cộng tác viên chính của tờ báo nổi tiếng và có nhiều ảnh hưởng này, đã thảo luận những thông tin tương tự về những cư dân khác nhau đã di cư về Nam trong nhiều thế kỉ, và rồi kết thúc đoạn này bằng cách khẳng định rằng “không nghi ngờ gì nữa, chủng tộc của chúng ta bị đồng hoá bởi Hán tộc” (則我國種同化於漢族可無疑矣).

Cạnh tranh và những thành tích quân sự

Vậy là khi các trí thức Việt Nam ở đầu thế kỉ XX cố gắng hiểu dân của họ bằng các khái niệm liên quan đến chủng tộc, họ làm vậy bằng cách tự xem mình giống như người Hoa hoặc Hán, nói khác đi, tương tự như những người sống ở phương Bắc. Họ làm điều này một phần bởi họ có những chứng cớ lịch sử cho thấy dòng cư dân Nam tiến, nhưng cũng bởi những người đến từ phương Bắc có quyền lực hơn, và những ý tưởng về chủng tộc mà các học giả Việt Nam học được ở đầu thế kỉ XX được kết hợp với các ý tưởng từ thuyết tiến hoá xã hội về sự cạnh tranh trong các xã hội hay chủng tộc. Trong một thế giới như thế cần phải mạnh mẽ, và các học giả Việt Nam nhìn trở lại lịch sử của họ, họ thấy sức mạnh của mình trong việc tàn phá một vương quốc, vốn là đối thủ truyền kiếp của họ, vương quốc Champa.

Chẳng hạn, một tác phẩm có tên Nam Quốc giai sự truyện được phát hành bởi Đông Kinh nghĩa thục, một ngôi trường theo tư tưởng canh tân mở năm 1907, có một thiên nói về “滅占城, Diệt Chiêm Thành” trong đó ca ngợi việc đánh bại người Chăm, những người hàng xóm phía Nam của người Việt, trong một trận chiến thế kỉ XI của ông vua Lý Thái Tông.

Rồi trong một tiểu luận có tên “Việt Nam quang vinh chi lịch sử” 越南光榮之歷史 công bố năm 1922 trên tờ Nam Phong, một học giả có tên là Lê Dư đã tìm thấy sự vẻ vang trong quá khứ của Việt Nam theo 2 cách. Thứ nhất là mảnh đất này chưa bao giờ bị sáp nhập vào Trung Quốc, và thứ hai người Việt đã tiêu diệt vương quốc Champa và sáp nhập nó [vào Đại Việt]. Lê Dư lưu ý rằng khi Việt Nam được thiết lập vào thiên niên kỉ đầu sau Công nguyên, lãnh thổ của nó không rộng hơn một tỉnh của Trung Quốc. Tuy nhiên, Việt Nam có thể mở rộng từ mảnh đất bé nhỏ của nó và có thể thôn tính lãnh thổ của vài vương quốc khác. “Đó chẳng phải là những chiến thắng vẻ vang và đáng nhớ nhất hay sao?” Ông dùng câu hỏi tu từ.

Sau đó Lê Dư tiếp tục bàn về vài vương quốc mà Việt Nam dần sáp nhập. Ông bắt đầu với Champa (Chiêm Thành) và lưu ý rằng địa bàn của vương quốc này không hề nhỏ. Sau đó, ông đề cập đến một vài thời điểm quan trọng trong quá trình dần chinh phục và sáp nhập Champa khoảng 500 năm – từ 1044 đến 1691. Rồi Lê Dư kết luận bằng cách tuyên bố rằng “Ngày cuối cùng tiêu diệt vương quốc Champa là ngày trọng đại ghi dấu việc hoàn thành những thắng lợi quân sự của người Việt ta” (ngã Việt).

Và trong khi ở đây Lê Dư không bàn về người Việt là ai bằng các khái niệm liên quan đến chủng tộc, các học giả khác đã kết nối khả năng bành trướng về phía nam với cốt lõi chủng tộc của họ. Dương Bá Trác, trong một tiểu luận năm 1918 đã nói ở trên, chỉ rõ rằng sự bành trướng về phía Nam này là có thể bởi đây là công việc của “Hán tộc ta” trong bản tiếng Việt và “đường đường Hán tộc” trong bản tiếng Hán cổ.

Thập niên 1920s-1940s

Vậy là sau vài thế kỉ viết sử để ghi chép những ưu nhược điểm về luân lí của các vị quân vương, các sử gia Việt Nam đã áp dụng triệt để các ý tưởng mới ở đầu thế kỉ XX. Họ bắt đầu tập trung vào vấn đề quốc gia thay vì quân vương. Họ cũng nỗ lực xác định chủng tộc của quốc gia, và họ cố chứng minh rằng chủng tộc và quốc gia của mình không bị tiêu diệt trong cuộc cạnh tranh giữa các chủng tộc bằng cách tôn vinh sự tiêu diệt dân Chăm của chính họ, một hành động khả thi một phần bởi họ là bộ phận của Đại Hán tộc.

Một vấn đề không được thảo luận nhiều ở đây là về thời cổ đại. Lịch sử Việt Nam trước thế kỉ XX.

—————————————

Vì vậy, ngày nay lịch sử Việt Nam được nhìn nhận không chỉ bằng những khái niệm rất khác với giai đoạn trước thế kỉ XX, mà nó cũng rất khác với cách nhìn nhận từng tồn tại ở đầu thế kỉ XX khi sự biến chuyển mang tính dân tộc chủ nghĩa trong ý thức lần đầu tiên đã dẫn dắt các nhà sử học Việt nam quan niệm về lịch sử Việt Nam theo những cách mới.

Tức là, dễ dẫn đến sự tranh cãi về việc liệu cái cách nhìn hiện thời vào những phương diện nhất định của lịch sử Việt Nam có thể được xem như một sự cải thiện trong tri thức của chúng ta về quá khứ, hay đó là một sự xuyên tạc bởi các nhu cầu chính trị và tình cảm.

Thời cổ của quốc gia Việt Nam đã được xác nhận bởi chính trị, chứ không phải bởi học thuật.

Việc thiếu vắng nhận thức về sự xâm lược và tàn phá của người Việt trong quá trình bành trướng về Nam là một cái nhìn bị quy định về mặt chính trị, chứ không dựa trên cứ liệu lịch sử.

Cuối cùng, mối quan hệ lịch sử với mảnh đất phương Bắc đã bị chính trị hoá đến nỗi khó ai có thể nói gì khởi sắc một chút về quá khứ.

————————-

Kết quả của tất cả điều này là một thế kỉ sử học Việt Nam đã thành hình trong sự tạo lập những lằn ranh tri thức đã được quyết định một cách đầy cảm tính và chính trị tính. Trong khi hoàn toàn có thể hiểu được tại sao điều này đã xảy ra lúc ban đầu, thì giờ đây khi người Việt muốn khớp nối với thế giới và thế giới muốn khớp nối với Việt Nam, những lằn ranh tri thức bị quyết định đầy cảm tính và chính trị tính như thế đang gây cản trở cho sự khớp nối đó.

Ở đây, khá là thú vị khi nhìn lại việc các trí thức Việt Nam đầu thế kỉ XX đã thực sự khớp nối với các ý tưởng từ thế giới bên ngoài lúc bấy giờ. Ngày nay, chúng ta có lẽ không thích những ý tưởng về chủng tộc và việc tuyên dương sự xâm lược của họ, nhưng đó là những ý tưởng “sắc bén” lúc bấy giờ, và chúng là những khái niệm “quốc tế”. Điều thú vị nữa là cứ liệu của họ có giá trị lịch sử đối với nó.

Ngày nay, các ý tưởng về chủng tộc không được ủng hộ, nhưng những ý tưởng bị giao nhiệm vụ chính trị về quan hẹ giữa “người Việt” và “người Hoa” rất khó đối diện với một sự thật là vô số “người Hoa” là bộ phận của quốc gia của “người Việt”. Các học giả ở đầu thế kỉ XX không gặp vấn đề với điều này. Cái nhìn của họ về hoàn cảnh này hẳn quá đơn giản, nhưng họ không lảng tránh nó.

Các học giả ở đầu thế kỉ XX cũng không lảng tránh một sự thật là người Việt Nam trong lịch sử đã chinh phục và tàn phá thế giới của những kẻ khác. Sự tuyên dương những sự kiện ấy có thể là thái quá, nhưng một lần nữa, họ không lảng tránh [sự thật] lịch sử này.

Cuối cùng, vấn đề cổ sử cũng là một chủ đề khác mà các học giả ở đầu thế kỉ XX có vẻ như gần với sự thật hơn [ngày nay].

————————–

Tóm lại, tôi phải khẳng định rằng khi tôi nghe Benedict Anderson nói ở đây ít ngày trước, tôi cảm thấy chán khi tôi không thấy ông nói cái gì mới. Tuy nhiên, những quan điểm của ông về sự biến chuyển trong ý thức là những quan điểm mà trọn nhiều năm sau khi ông bàn đến lần đầu trong cuốn Những cộng đồng tưởng tượng, chúng vẫn chưa được khảo nghiệm, xem xét khi khảo sát quá khứ các nhóm người như người Việt. Tuy nhiên, người Việt đã trải qua những thay đổi to lớn và ý thức của họ cũng thay đổi theo.

Nguồn: Liam C. Kelley, “Imagining the Nation in Twentieth Century Vietnam” Presented at the 4th “Engaging With Vietnam: An Interdisciplinary Dialogue”Conference in Honolulu, HI on 8 November 2012.

URL:https://www.academia.edu/5378568/_Imagining_the_Nation_in_Twentieth_Century_Vietnam_

[1] Hoàng Đạo Thành, Việt sử tân ước toàn biên [Complete Compilation of the New Testament of Việt History], (1906), A. 1507., tựa, 1a-1b.

[2] Hoàng Cao Khải, Việt sử yếu [Summary of Việt History], (1914), R. 173, đinh a-b.

Điểm sách Ngàn năm áo mũ

 Le Minh Khai

Trà Mi lược dịch

Tác phẩm được nghiên cứu một cách tỉ mỉ, đặt cơ sở trên một nguồn tư liệu đa dạng khổng lồ; tôi nghĩ rằng đây sẽ là một công trình nghiên cứu có thẩm quyền về trang phục Việt Nam thời quân chủ trong nhiều năm sắp tới.
Tôi đã định viết một bài điểm sách chính thức hơn về cuốn Ngàn năm áo mũ của Trần Quang Đức. Cách thông thường ở chỗ tôi làm việc, khi viết một bài điểm sách, là sẽ nói về bối cảnh lịch sử của những vấn đề viết trong cuốn sách (tức là nói về những nghiên cứu cùng chủ đề đã có trước đó và công trình hiện tại nằm ở đâu trong lịch sử nghiên cứu về chủ đề đó), tóm tắt nội dung của cuốn sách, sau đó bàn về ưu nhược điểm của nó. Đó là những điểm tôi sẽ cố gắng làm ở đây.
Là tác phẩm về lịch sử trang phục của triều đình, chính quyền, và dân thường trong một giai đoạn khoảng 1000 năm, cuốn sách này quan tâm đến một chủ đề mà một số học giả ở Việt Nam trước đó đã viết. Tuy nhiên, như tác giả đã nêu rõ ở lời “Tự luận”, các tác phẩm trước đó dựa nhiều vào những bản dịch bằng tiếng Việt hiện đại các văn bản vốn được viết bằng chữ Hán (Hán cổ). Mặt khác, Trần Quang Đức dùng một số lượng rất lớn các nguồn tư liệu viết bằng chữ Hán của tác giả Việt Nam và Trung Quốc trong nhiều thế kỷ. Vì vậy, dù chủ đề này đã được thảo luận trước đây, cuốn sách này, ở phạm vi nguồn tư liệu, tham khảo và ở sự tinh thông của tác giả khi đọc các nguồn tư liệu đó, là điều chưa từng thấy.
Cuốn sách có một phần “Tổng quan” và năm chương. Trong phần “Tổng quan”, Trần Quang Đức cho rằng sự lựa chọn áo mũ dùng cho nhiều hoàng đế và quan chức khác nhau qua nhiều thế kỷ đã chịu ảnh hưởng lớn của hai dòng tư tưởng: tư tưởng đế quốc (sách TQĐ viết là “tư tưởng đế vương” – T.M.) và tư tưởng Hoa Di. Ở năm chương tiếp theo, người đọc thấy sự lựa chọn chính xác đã được thực hiện thế nào theo thời gian và năm chương sách đó đã nghiên cứu trang phục của hoàng đế, quan viên, cũng như dân giả, trong các giai đoạn nhà Lý, Trần, Lê sơ, Lê Trung hưng và Nguyễn.
Muốn tìm cách bàn chi tiết hơn về từng chương, tuy nhiên, tôi đã không thể nào làm được vì mỗi chương đều dầy đặc thông tin. Nói thế, nhưng có một điểm về cuốn sách mà tôi rất thích là, dù đầy ắp dữ liệu, nhưng những thông tin đó vẫn được trình bày bằng một cách rất lôgic và rõ ràng.
Một trong những vấn đề mà các học giả gặp phải là họ thường thấy nhiều “tiểu đề” nhỏ hơn trong lúc đang nghiên cứu các chủ đề “chính”. Người ta sẽ làm gì với những thông tin đó? Liệu họ có bỏ chúng ra ngoài cuốn sách và chỉ tập trung vào chủ đề chính? Hay họ cũng đưa những tiểu đề đó vào sách? Nhiều người đã làm như vậy, và kết quả là cuốn sách của họ trở nên “bừa bộn” với các phụ lục, v.v.
Trong tác phẩm này, Trần Quang Đức đã làm một việc sáng tạo là sử dụng cách xắp đặt, trình bày trực quan nhiều dữ liệu như thế và vẫn giữ được mạch chính của văn bản. Thí dụ, như chương viết về nhà Trần, Trần Quang Đức đã trình bày quan điểm của mình về trang phục trong bức tranh Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ (1) đã được các học giả thảo luận dạo gần đây. Trong trường hợp này, tác giả đã dùng một màu nền hơi khác cho trang sách, và đặt chữ lên trên nền của tranh (2). Đây là một cách trình bày nhiều loại thông tin khác nhau một cách hiệu quả và sáng tạo đồng thời giữ được sự mạch lạc của cuốn sách.
Sự chú trọng đến cách trình bày trực quan đương nhiên đã đưa đến việc tác giả trưng dẫn một số lớn những tấm hình trong cuốn Ngàn Năm Áo Mũ. Trần Quang Đức đã làm một việc tuyệt vời là sưu tìm từ một loạt các nguồn tư liệu để có được những hình ảnh liên quan hệ đến chủ đề nghiên cứu. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là tác giả cũng phê phán cách chúng ta “đọc” tranh ảnh.
Vì thế, một mặt đây là cuốn sách rất thú vị để đọc, mặt khác ưu điểm lớn nhất của nó là nguồn tư liệu tham khảo gốc rất lớn, và nỗ lực đáng nể mà Trần Quang Đức đã vận dụng để khai thác các nguồn tư liệu đó. Nghiên cứu về lịch sử trang phục là không dễ, vì thường có rất ít nơi [tài liệu] để người ta có thể tìm được những giải thích chi tiết về trang phục, loại nào đã được mặc ở một thời điểm nào và hình dạng của chúng ra sao. Thay vào đó, người ta phải xây dựng hiểu biết của mình về chủ đề này từ những trình bày vắn tắt ở nhiều nguồn khác nhau. Có một cách dễ, và cũng có một cách khó để làm như vậy.
Cách dễ để nghiên cứu chủ đề này là làm những gì các học giả đi trước đã làm – đọc các bản đã dịch sang tiếng Việt hiện đại và xem có những thông tin nào về trang phục ở đó. Cách nghiên cứu này có hai vấn đề. Trước hết, nó rất giới hạn về lượng thông tin người ta có dùng, vì nhiều dữ kiện sẵn có trong các bản Hán văn hơn là trong các bản đã dịch sang tiếng Việt hiện đại. Hai là, để dịch được những thông tin về trang phục từ một văn bản viết bằng chữ Hán, người ta cần phải có kiến thức về trang phục mà văn bản đang nói đến. Nhiều người khi dịch các văn bản Hán đã không có được kiến thức đó, và vì thế bản dịch của họ thường không chính xác hoặc có ích.
Cách khó để nghiên cứu chủ đề này là lùng kiếm trong một phạm vi lớn các nguồn tư liệu chữ Hán và cố gắng tìm kiếm thông tin về trang phục. Đây là việc khó làm. Điều khiến nó còn khó thực hiện hơn nữa là rất nhiều dữ kiện tìm được trong các bản Hán văn do những người biết rằng độc giả của họ, ít hay nhiều, đã biết tác giả đang bàn về vấn đề gì. Kết quả là, những “miêu tả” của họ về trang phục thường khá vắn tắt. Học giả hiện đại vì thế cần phải tìm đọc các đoạn trích khác nhau có đề cập đến cùng một loại áo hay mũ để nắm rõ được hình dạng thực sự của nó. Và cuối cùng, trên thực tế trang phục đã thay đổi kiểu nhiều lần qua các thế kỷ, và cũng thế, việc lần theo dấu vết của tất cả những sự thay đổi đó cũng rất là khó khăn.
Trong Ngàn năm áo mũ, Trần Quang Đức đã áp dụng cách “khó” để nghiên cứu chủ đề này. Kết quả là, cuốn sách này tốt hơn bất kỳ nghiên cứu nào đã có trước nó. Và các học giả sau đó có thể tìm ra những lỗi đây đó (và biết đâu được, có thể người ta sẽ tìm thấy có một bức ảnh nào đó đã được đặt tên nhầm), tôi không bao giờ hình dung được tác phẩm này sẽ bị thách thức nghiêm trọng. Cuốn sách này là một “instant classic” [được tức thì đánh giá là ưu hạng, không cần qua thử thách của thời gian. – DCVOnline]. Nó đã được nghiên cứu một cách tỉ mỉ đặt cơ sở trên một nguồn tư liệu đa dạng khổng lồ, khiến tôi nghĩ rằng đây sẽ là một công trình nghiên cứu có thẩm quyền về trang phục Việt Nam thời quân chủ trong nhiều năm sắp tới.
Cuối cùng, một mặt khác đáng xem là cách dùng phương pháp so sánh. Trần Quang Đức không nghiên cứu lịch sử trang phục ở Việt Nam một cách riêng rẽ, mà còn tham chiếu những sự phát triển liên hệ ở những nơi khác như Triều Tiên và Nhật Bản, và tất nhiên tác giả theo dõi sát lịch sử trang phục ở Trung Hoa. Khi khảo cứu một chủ đề bằng phép so sánh, người ta tránh được cái bẫy của tuyên bố thiếu cơ sở về tính duy nhất của chủ đề mà họ nghiên cứu. Vì vậy, điều này khiến cho công trình học thuật của trở nên chính xác hơn.
Do đó, tác phẩm này này đánh dấu một thành tựu học thuật ngoại hạng. Vì thế, tôi không thực sự thấy nó có “nhược điểm” để tôi có thể phê bình, tuy nhiên, dù sao tôi cũng vẫn muốn đưa ra một đề nghị một hướng mà những công trình học thuật về chủ đề này trong tương lai có thể để ý tới tới. Trần Quang Đức đã hoàn thành một công việc đắt giá là cung cấp tư liệu rất rõ ràng về “cái” người ta mặc, nhưng tôi vẫn muốn biết nhiều hơn về việc “tại sao” họ mặc những trang phục như thế. “Tư tưởng đế quốc” và “tư tưởng Hoa Di” mà Trần Quang Đức đã đề cập đến phần nào giải thích điều này, nhưng tôi nghĩ chúng ta có thể đi sâu hơn vào việc giải nghĩa tại sao người ta đã mặc quần áo như vậy.
Khi một vị hoàng đế Việt Nam làm lễ tế đàn Nam Giao và mặc áo có hình ảnh mặt trăng, mặt trời và những vì sao trên áo, cùng lúc các quan viên triều đình đều đứng hầu hoặc quỳ chầu trong các loại áo mũ riêng biệt… Điều gì đó quan trọng đang xảy ra. Những chiếc á
o và mũ mà những người đó đang mặc đang “làm” một cái gì đó, và mọi người ở đó đã tin rằng áo và mũ của họ đang “làm” một cái gì đó.
Một thuật ngữ tiếng Anh của học thuật lịch sử, có một nhóm chữ nay thường được dùng là “phục trang quyền lực” (power dressing). Trong quá khứ, áo quần mà người mặc có quan hệ mật thiết với quyền lực của người đó. Tuy nhiên, quần áo liên hệ với quyền lực như thế nào là một cái gì đó có vẻ khác nhau qua thời đại và địa phương.
Là điều rất thú vị để tìm hiểu sâu hơn về chủ đề này trong trường hợp Việt Nam. Tuy nhiên, làm được như thế đòi hỏi người nghiên cứu phải có hiểu biết chính xác về “cái” người ta mặc, và Trần Quang Đức, không còn thắc mắc gì nữa, đã cung cấp cho chúng ta những dữ kiện đó, và nhiều nhiều hơn nữa, trong cuốn Ngàn năm áo mũ của ông.
© 2013 DCVOnline

Nguồn: A Review of “A Thousand Years of Caps and Robes”. Le Minh Khai’s SEAsian History Blog, 11jun13. Tác giả nghiên cứu và dạy ở đại học về lịch sử. (Quan hệ lịch sử Việt Trung, Các tôn giáo phổ biến ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX).
DCVOnline:
(1) Là bức “tranh vẽ Trúc Lâm Đại Sĩ xuống núi”, là tên của một tác phẩm hội họa khổ rộng [961 cm × 28 cm] của Trung Hoa vào cuối đời nhà Nguyên, do Trần Giám Như (陳鑑如) vẽ năm 1336 và sau đó được các danh sĩ đời nhà Minh viết thêm lời bình. Tác phẩm là họa phẩm tranh thủy mặc, kết hợp nghệ thuật thư pháp đặc sắc, miêu tả cảnh Trúc Lâm đại sĩ (tức Trần Nhân Tông) từ động Vũ Lâm xuất du. [Nguồn: Wikipedia.org]

Bức “tranh vẽ Trúc Lâm Đại Sĩ xuống núi” - 3 khung ngàn dduojc xếp lại theo chiều dọc để minh họa. Nguồn: Wikipedia.org

(2) Chương II: Trang phục thời Trần, ở phần minh họa có 5 thành phần nhỏ cuả bức tranh Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ: a) Tranh voi chở kinh (trang 101), b) Vua Trần Anh Tông (trang 110), c) Tụng quan thời Trần (trang 125),  d) Mũ của tụng quan (gồm nhiều ảnh nhỏ, trang 127), và e) Vua Trần Nhân Tông đi võng (trang 139); tất cả những hình minh họa đều nằm trên giấy trắng; riêng ở những trang 128-132, “Đôi nét về Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ” – không có tranh minh họa – tác gỉa viết về bức tranh Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ bằng chữ đen trên những trang “vải bạt” màu có viền hoa văn trên và dưới ở mỗi trang.
Nguồn bản “lược dịch” này: http://rbomtm.blogspot.com/2013/06/iem-sach-ngan-nam-ao-mu.html

Nhà nghiên cứu Trần Quang Đức, tác giả của “Ngàn năm áo mũ” (2013) – “một trong những tập tài liệu văn hóa, lịch sử trang phục được nghiên cứu sâu và biên soạn kỹ nhất ở Việt Nam cho đến nay”1, nói về hai sai lầm mà anh cho rằng chúng ta đang mắc phải trong quá trình bảo tồn văn tự Hán Nôm.

Đồng nhất địa chính trị với địa văn hóa

Xét về góc độ văn hành chính và văn ngôn luận, hơn 60% số từ trong từ vựng tiếng Việt là từ gốc Hán (từ Hán Việt). Người Việt sử dụng văn tự Hán Nôm để ghi lại ngôn ngữ tiếng Việt dưới hình thức các kí tự chữ vuông (trong đó chữ Nôm được tạo nên trên cơ sở chữ Hán để ghi những âm thuần Việt). Có thể thấy, vấn đề bảo tồn văn tự Hán Nôm đang gặp không ít khó khăn, ngoài lí do ngày nay chúng ta đã có hệ thống chữ Quốc ngữ hoàn chỉnh thay thế chữ Hán Nôm, còn có một vấn đề khác, đó là cách nhìn nhận sai lầm của nhiều nhà nghiên cứu và người dân đối với văn tự này.

Sai lầm trước tiên, theo nhà nghiên cứu Trần Quang Đức, đó là việc đồng nhất yếu tố địa chính trị với địa văn hóa, gắn yếu tố chính trị – lịch sử của người Trung Hoa lên văn tự chữ vuông được dùng ở Việt Nam. Cần lưu ý rằng, trước thế kỷ XX, giới trí thức Việt Nam không gọi chữ Hán là chữ Hán theo nghĩa chữ của người Hán, mà chỉ gọi là văn tự, là chữ. 

Nằm trong hệ thống những quốc gia và vùng lãnh thổ sử dụng chữ Hán như Trung Quốc, Nhật Bản, bán đảo Triều Tiên (trước đây), Việt Nam có lịch sử sử dụng hệ thống chữ vuông này từ lâu đời. Với phát hiện gần đây nhất về sáu chiếc trống đồng Đông Sơn loại 1 có các dòng chữ Hán, có thể khẳng định, từ thiên niên kỷ thứ nhất TCN, chữ Hán đã được sử dụng bởi cộng đồng dân cư vùng đồng bằng sông Hồng; trong thời kỳ Bắc thuộc, hệ thống chữ Hán, âm đọc Hán Việt đã hình thành và được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam. Chính vì yếu tố lịch sử này, ngày nay có nhiều người quan niệm rằng, chữ Hán là chữ ngoại lai, học chữ Hán là học thứ chữ của phương Bắc. Thậm chí chữ Hán “được đặt” trong bối cảnh quan hệ Việt Nam – Trung Quốc hiện tại, trở thành đối tượng bị bài xích, tẩy chay. 

Cách nhìn lệch lạc đánh đồng địa chính trị và địa văn hóa này kéo theo hệ quả là tâm lý tẩy chay tất cả những “yếu tố Tàu” trong văn hóa Việt truyền thống, trong khi xét về mặt ngôn ngữ, chữ Hán sử dụng trong tiếng Việt, được dùng để biểu âm, đọc với vỏ âm của người Việt, không thể nào là “sản phẩm phương Bắc”, và cũng không nên coi Hán tự dùng trong nước là văn tự của nước ngoài. Ở khía cạnh văn hóa, nó như là một chỉnh thể, có ảnh hưởng, có tiếp biến và hỗn dung văn hóa, tương tự trường hợp chữ Kanji của Nhật Bản. Do đó theo nhà nghiên cứu Trần Quang Đức,  “thay vì bài xích, chúng ta nên nhìn nhận một cách toàn diện, khách quan với tư cách chủ thể độc lập”. 

Nhìn nhận sai lầm về văn tự Hán Nôm dẫn đến một thực tế “tai hại” là tư liệu Hán Nôm không được bảo vệ, giữ gìn trong nước mà bị bán dưới dạng nguyên liệu thô cho một số nước và vùng lãnh thổ như Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản. Những nước này biến nguyên liệu đó thành nhiều cuốn sách in đẹp đẽ (như Đại Việt sử ký toàn thư – Đại học Tokyo Nhật Bản xuất bản, Đại Nam thực lục – Đại học Keio Nhật Bản xuất bản, Toàn tập tiểu thuyết Hán Văn Việt Nam, Toàn tập văn hiến Yên hành Việt Nam – Nhà xuất bản Cổ tịch Thượng Hải xuất bản…) rồi bán với giá cao ra các nước khác, trong đó có cả Việt Nam, nhà nghiên cứu Trần Quang Đức cho biết.

Sai lầm thứ hai về mặt nhận thức, đó là đánh giá không đúng vai trò của văn tự Hán Nôm trong cuộc sống hiện tại. Ở một chiều, việc nhìn nhận văn tự Hán Nôm như chữ thánh hiền vô hình trung đẩy văn tự này lên thành một thứ đạo đức, tín ngưỡng và khiến nó trở nên già cỗi, giáo điều. Ở chiều ngược lại, việc một mực đề cao chữ Quốc ngữ, phủ nhận hoặc không coi trọng văn tự Hán Nôm, lại dẫn đến tình trạng không hiểu rõ ngọn ngành, rốt ráo nhiều từ ngữ sử dụng hằng ngày. Bảo tồn văn tự Hán Nôm không phải là bỏ chữ Latin quay lại với văn tự Hán Nôm, mà là, bên cạnh chữ Quốc ngữ (rất dễ đọc, dễ học, dễ hiểu) thì chúng ta cũng cần biết thêm chữ Hán Nôm để không bị “đứt gẫy” về văn hóa với quá khứ, với chính ngôn ngữ mẹ đẻ của mình.

Không thể là việc của những  cá nhân

Nhà nghiên cứu Trần Quang Đức cho rằng cơ sở quan trọng nhất để bảo tồn văn tự Hán Nôm là cần khắc phục những nhận thức sai lầm nói trên.

Trước mắt, ngoài việc nghiên cứu, viết sách, các nhà nghiên cứu Hán Nôm có thể tổ chức những buổi nói chuyện để lan tỏa tri thức Hán Nôm trong cộng đồng xã hội, đặc biệt là giới trẻ. 

Còn về lâu dài, đó phải là “vấn đề của Nhà nước, về chính sách, về giáo dục nói chung”. Theo anh Đức, hiện tại việc đưa chữ Hán Nôm vào dạy ở trường phổ thông dưới dạng môn học bắt buộc là chưa khả thi, tuy nhiên trong tương lai gần, có thể đưa vào dưới dạng môn học tự chọn. Với sinh viên các ngành KHXH, nhất là các ngành Lịch sử, Khảo cổ, Văn học, cần tiếp cận được (đọc hiểu được) nguồn sử liệu gốc thay vì tiếp cận thông qua các tài liệu dịch. Trong lịch sử phát triển ngôn ngữ tiếng Việt nói riêng (từ thời Lý đến thời Nguyễn), lịch sử Việt Nam nói chung, đa số sách vở, sử liệu, văn chương Việt Nam trước thế kỷ XX đều được viết bằng chữ Hán. Anh Đức khẳng định “để nghiên cứu văn hóa Việt Nam, lịch sử Việt Nam, văn học Việt Nam, người nghiên cứu không thể không thành thạo Hán văn”. 

Ở những quốc gia phát triển chịu sự ảnh hưởng của chữ Hán tương đối lâu dài như Hàn Quốc và Nhật Bản, họ có một chiến lược giáo dục cụ thể: Chẳng hạn, các nước này quy định học sinh học hết cấp ba phải biết được 1.800 chữ Hán. Hoàn thành chương trình đại học, đặc biệt là các lĩnh vực thuộc khối KHXH, sinh viên phải đọc thông thạo Hán văn cổ để có thể nghiên cứu văn hóa truyền thống thông qua thư tịch cổ. Đơn cử trường hợp Hàn Quốc, sau những phong trào khôi phục việc giảng dạy chữ Hán từ những năm 1995-1996, đến năm 2011, dưới quyết định của Tổng thống Lee Myung Bak, chương trình chữ Hán chính thức được đưa vào trường tiểu học. 

Việc kết hợp tư tưởng phương Đông và phương Tây (thông qua sử dụng thành thạo các ngôn ngữ) nhuần nhuyễn, cởi mở, theo nhà nghiên cứu Trần Quang Đức, là cần thiết và là cách tốt nhất để đất nước phát triển trong thời kì hội nhập. Bản chất của sự dung hòa này, giống như giai đoạn 1930-1945 trong lịch sử Việt Nam, giai đoạn Tây học và Cổ học đan xen, đội ngũ trí thức tiếp nhận cả hai nền văn hóa đã tạo ra một thời kì để lại nhiều dấu ấn đậm nét trên khắp các lĩnh vực từ văn học, âm nhạc đến hội họa, báo chí…    

Vũ Hải An ghi                                                                  

Đến nay, nhà nghiên cứu Trần Quang Đức đã tổ chức được hai khóa học Hán Nôm (mỗi khóa sáu tháng) với hơn 200 học viên. Kết thúc khóa học, học viên có thể biết 600 chữ cơ bản nhất và được hướng dẫn đọc 12 bài thơ, văn cổ của Việt Nam. Sau hai-ba khóa học, bài giảng sẽ được anh điều chỉnh cho hợp lý, dễ hiểu hơn để tiến tới việc xuất bản một giáo trình tự học Hán Nôm dành cho người Việt, tạm gọi là Giáo trình Hán Nôm vỡ lòng. Anh cho rằng, để Hán Nôm trở nên đương đại, gần gũi dễ hiểu thì phương pháp dạy học không thể chỉ dừng lại ở phấn trắng bảng đen. Thay vào đó là trình chiếu PowerPoint với hình ảnh trực quan sinh động. Bài học gắn liền với những tư liệu lịch sử, văn hóa thú vị nhằm khơi gợi và nuôi dưỡng tình cảm, thẩm mĩ người học.

Thông qua hình ảnh, con chữ, gắn kết chúng với những câu thơ của người Việt xưa như Trần Thánh Tông, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Văn Siêu…, người học không những hiểu về tư tưởng, văn học, văn hóa thời xưa (ít nhất là giai đoạn trung cận đại) mà còn hiểu và ghi nhớ sâu sắc chính ngôn ngữ mình đang sử dụng.  Một thí dụ: Bài giảng của Trần Quang Đức về chữ Túc 宿 trong từ “ký túc xá”, “tá túc” v.v. cho biết, chữ Túc là chữ hội ý, gồm bộ Miên 宀 tượng hình mái nhà, dưới mái nhà có chữ Nhân 人 tượng hình người, bên cạnh là chữ bách 百 vốn tượng hình cái chiếu hoặc giường; hợp lại trỏ nghĩa là ‘’ngủ, nghỉ’’. Như vậy, ký túc xá (ký: gửi; xá: quán, nơi) nghĩa là nơi cho (học sinh, sinh viên) ngủ nhờ và tá túc (tá: mượn) nghĩa là ngủ nhờ.

Qua slide này, người học cũng được giới thiệu những câu thơ đẹp liên quan đến chữ Túc như: “Triêu du phù vân kiệu, mộ túc minh nguyệt loan” (Sớm chơi núi mây nổi, tối ngủ bến trăng thanh) của Trần Thánh Tông; “Trúc lâm đa túc điểu, quá bán bạn nhàn tăng” (Rừng trúc nhiều chim đậu, quá nửa bạn sư nhàn) của Thiền sư Huyền Quang; “Ngư chu xuân tống khách, hồi trạo túc hoa biên” (Thuyền chài xuân đưa khách, quay chèo ngủ cạnh hoa) của Nguyễn Văn Siêu; “Cô yên tại thiên mạt, kim dạ túc thùy gia” (Khói lẻ cuối chân trời, đêm nay nghỉ nhà ai) của Nguyễn Du; “Bạch âu mộ hạ túc hàn yên” (Chim âu trắng, chiều tà, hạ xuống nghỉ trong vùng khói lạnh) của Nguyễn Khuyến.

1. Theo chuyên gia phục chế cổ vật Trịnh Bách trong lời tựa sách “Ngàn năm áo mũ”.

Nguồn: tiasang.com.vn

Trong bài viết “Đại học miền Nam trước 1975 - Hồi tưởng và nhận định”, tác giả đã đưa ra một mô...
Sau hơn 80 năm, cuốn sách nhỏ Nghệ thuật xứ An Nam (1933) của Henri Gourdon mới được dịch ra tiếng Việt*....